TÔI KHÔNG BÓC PHẨN NỮA

Thiên-Giang

 

Mùa đông đă lạnh, ở miền sơn cước nó càng lạnh hơn. Bầu trời trong vắt và mặt trời đổ nắng chang chang. Thế mà những cây vốn chịu lạnh lần lần trụi lá, và cỏ bên đường lụn dần đi như bị tắm nước sôi.

Hôm qua khi tiếng mơ cầm canh dội lên giữa đêm vắng, vọng gác số ba không có tiếng trả lời. Người ta tưởng bác lính gác ngủ quên, chừng xem kỹ lại th́ bác đă chết cóng.

Hôm nay, một anh tù bị phỏng nặng v́ trong lúc chuốc mây bện giỏ, anh ngồi cận bếp quá đến nỗi lửa táp ống quần hồi nào không hay.

“Lạnh quá, lạnh chết được”. Ai cũng kêu lên như thế, và ai cũng cố t́m một chỗ làm nhiều nắng và kín gió. Tuy nhiên, sáng nào cũng như sáng nào, vào một giờ nhất định, giờ ấy mặt trời chưa lên khỏi núi, sương mù c̣n dày, một đoàn bốn người quần cụt ống, áo cụt tay, khiên hai người một cái sọt lớn xuống dốc bờ sông Sê-băng-hiêng.

Họ để sọt xuống mép nước, đặt cây đ̣n lên băi cát, rồi rút mỗi người một cái nùi bằng chạt tre quấn quanh cái que, lội xuống sông. Họ làm ǵ đây ?

Họ làm một công việc không mấy ai muốn làm.

Một năm mười hai tháng, một tháng ba mươi ngày, trời nắng cũng như trời mưa, lạnh cũng như bức, trừ những khi bịnh sốt rét bắt họ phải giăy đành đạch như cá vừa lên khỏi nước, họ phải ngửa vai khiêng cái sọt trên trăm ống tre to tướng chứa đầy phẩn và nước tiểu, trên một con đường dốc khá dài. Bao nhiêu đó cũng đủ cho những người không quen lao động rùng ḿnh. Lúc đầu th́ không ai từ chối cả. Ai cũng sẵn sàng đỡ lấy gánh nặng khi nó đă đến cho ḿnh, để rồi trưa lại nằm lăn ra bỏ cả cơm cả nước. Dần dần luật đào thải loại bớt những người không đủ sức. Về sau công việc ấy giao hẳn lại cho một ban chuyên môn gồm có một số người t́nh nguyện.

Người t́nh nguyện lúc đầu kể cũng nhiều, những hai ba chục. Nhưng trong ṿng vài tháng sau chỉ c̣n vỏn vẹn bốn người chính thức và bốn người dự bị mà thôi. Thật ra th́ người đủ sức khiêng cái sọt ấy không phải ít: họ có thể cố gắng lâu dài được nếu công việc không đến nỗi ghê tởm quá.

Mà ghê tởm thật. Họ phải buộc mó tay vào phẩn, để mắt, để mũi vào phẩn, và phẩn ấy là phẩn người ! Hằng trăm ống tre chứa đủ thứ phẩn, phẩn lỏng, phẩn sền sệt, phẩn cứng, phẩn của người đau kiết lỵ lẫn lộn máu và đờm, của người có sán lăi, sán kim, sán sơ mít, nhun nhúc đủ các thứ kư sinh trùng.

Nhưng ở đời việc ǵ cũng quen nếu người ta cố gắng chịu đựng. Và Tiến chịu đựng được với công việc đổ phẩn nầy ngót hai năm rồi. Bây giờ th́ chàng yêu nó như người thợ giỏi yêu nghề.

Khi cánh cửa nhà lao mở rộng và nêm cùm đă tháo, chàng nịt gọn bộ xiềng vào bụng và ống chưn, lanh lẹ nhảy xuống đất, đi từ lao nầy đến lao kia, nhặt hết các ống tre đem bỏ vào hai cái sọt trước thềm rồi cùng ba người bạn nữa khiêng đi. Tới bờ sông, chàng lấy ra từng ống một, đổ nhẹ xuống nước, đoạn thọc nùi vào trong ngoáy ngoáy những mảnh, những bợn phẩn c̣n bám lại trong ống, rồi rửa ống thật sạch sắp vào sọt.

Công việc súc rửa ấy mấy lâu nay chỉ có một ḿnh Tiến làm. Ba người kia hoặc không làm ǵ hết, hoặc súc sơ những ống không dơ lắm rồi lo giặt dịa quần áo chăn chiếu của bạn đồng lao gởi. Họ không dám đi sâu vào công việc, một công việc khiến họ bụng trống mà phải bỏ cơm.

Mùa đông, mực nước sông Se-băng-hiêng rất hạ. Trong một ḍng nước như gương nhè nhẹ chảy giữa hai chưn núi, lướt qua đá cuội phủ rêu xanh, từng đàn cá trắng quẩn theo chân chàng như chờ đợi. Trước mắt chàng, thiên nhiên là cả một bức tranh, là cả một bài thơ. Mặc dầu nước cọ vào da như dao xuyên qua thịt, chàng không dám vội vàng. Chàng trù trừ một hồi lâu trước khi trút cái cặn bă của bụng con người vào cái thiên nhiên không bợn ấy.

Một buổi sáng, vừa trút đầu ống xuống nước, chàng bỗng reo lên như khám phá ra một sự lạ.

-     Các anh ơi, lại đây, lại đây !

Rồi chỉ cho các bạn chàng đàn cá tranh nhau những miếng dơ lững lờ trong cái khối pha lê chuyển động dưới ánh sáng mặt trời, chàng vừa nói vừa cười:

-     Sống trên ḍng sông Vị mà không học đ̣i Lữ Vọng th́ c̣n ǵ là thú vị, phải không các anh ?

Cả ba đều ph́ ra một cái cười chế nhạo. Nhưng ba hôm sau, khi đặt hai cái sọt trên bờ sông, các bạn chàng rút trong ba ống tre ra những cái que nhỏ mà khi ráp lại họ làm thành những cần câu xinh xắn. Từ hôm ấy, Tiến lại phải làm thêm một công việc nữa. Trước khi súc, chàng nh́n kỹ vào các ống tre để t́m lấy những cục phẩn cứng mà chàng lựa riêng ra và nặn thành từng viên nhỏ. Đó là những miếng mồi.

Lữ Vọng câu không cần mồi v́ ông ấy câu thời câu vận, c̣n tù nhân Lao-bảo th́ lại câu cá, và càng câu được nhiều càng tốt. Tiến lấy làm sung sướng thấy bạn chàng vứt lên băi những con cá sáng ngời bằng hai ba ngón tay. Chàng nhốt chúng trong một cái lỗ đào trên cát, đợi khi súc ống xong, hốt chúng ra, ngắt bụng, nặn viên phẩn vứt đi, rửa sạch, bỏ vào ống.

Cá tươi ở Lao-bảo là một của hiếm như nước mát ở sa mạc vùng nhiệt đới. Nó làm cho nước dăi trong miệng người ta trào lên. Nh́n nó, người ta thấy lại bao nhiêu món ăn mà ngót hai ba năm, năm mười năm trời đằng đẵng người ta chỉ hưởng được trong tưởng tượng hay trong chiêm bao.

Và những món ăn thèm muốn ấy là những mói ǵ ? Giản dị lắm. Một tô canh rau muống nấu tôm, một dĩa ngọn lang luộc chấm mắm tỏi, một ít cá vụn kho mặn v. v...

Trưa lại, khi Tiến ném nắm lá lốt xắt nhỏ vào nồi cá sôi sùng sục trên bếp, các bạn chàng reo lên như là người khốn khổ t́m được hầm vàng. Và khi họ ngồi vây chung quanh rá cơm, chờ đợi với một vui mừng ngây thơ th́ Tiến sắp lên nền nhà một giọc ô đồng gần chục chiếc. Trong mỗi chiếc, chàng bỏ một con cá và châm thêm ít th́a nước thơm ngọt, đoạn đặt chiếc nồi cạnh rá cơm, chàng tuyên bô:

-     Mấy ô nầy là phần người bịnh, c̣n bao nhiêu là của ta.

Nhưng trong nồi không thấy bóng dáng một con cá nào. Sau một chút thất vọng, các bạn chàng lại tươi cười:

-     Thôi th́ cũng được.

Rồi họ chia nhau mỗi người một chút nước.

Từ đó trở đi, mỗi lần đặt giỏ trên bờ sông, Tiến chủ ư bươi móc các ống tre t́m những cục phẩn cứng. Lắm khi đương vân-vê một miếng phẩn dẻo như đất sét mịn, một cơn gió nhẹ thổi từ trên núi xuống mặt sông rồi tạt ngược trở lên mặt chàng, đưa rốc vào hai lỗ mũi một luồng ác khí khiến chàng muốn trào cả ruột. Nhưng chàng tự trấn tỉnh được ngay: „Đây chỉ là thức ăn biến thể mà !“ Rồi chàng vừa làm việc, vừa say sưa nh́n những con cá trắng ngần lộn quanh chưn. Chàng nghĩ tới bao nhiêu bịnh nhơn đang đặt cả một hy vọng lớn ở chàng.

Ấy là những kẻ không may mà c̣n gặp bước không may. Những kẻ ấy đă từng sống một cuộc đời mạnh mẽ, hoạt động, đă từng tranh đấu, từng đem cái sống trong ḿnh rây rắt chung quanh. Và bây giờ hoặc tạm thời, hoặc vĩnh viễn, họ nằm nghe một cách bất lực thân thể ḿnh bị tàn phá. Họ không rên rỉ, không than van, không đ̣i hỏi. Họ đă biết trước phải qua những bước cam go. Trên đường đời, họ đi tới đích cũng tốt, không cũng tốt. Trong việc xây núi Thái sơn quí hồ họ giúp được một vài ky đất. Mảng lo nghĩ đến ngày mai chung của dân tộc, của loài người, họ quên cái ngày mai riêng của họ. Sống cũng được, mà chết cũng được. Đối với họ, sống hay chết không quan trọng lắm. Họ chỉ muốn sống sao cho có lợi và chết đừng uổng mà thôi.

Họ không phải là người thiếu t́nh cảm. Hơn ai hết, họ biết sướng, biết cực, biết vui, biết buồn. Họ cũng biết ở nhà sang, mặc áo đẹp, ăn miếng ngon, ngửi mùi thơm, nghe tiếng du dương, ngắm màu tươi thắm. Họ thật là những nghệ sĩ. Họ hiểu được cái đẹp với tất cả tinh thần của nó. Nhưng dầu ham muốn, họ không lụy v́ ham muốn. Và một ngày nào đó, một cách dễ dàng, họ bỏ ngôi nhà sang, cởi chiếc áo đẹp, vứt miếng ăn ngon để sống cái đời họ đang sống. Trong cuộc đời ấy, họ vẫn cảm một cái đẹp phi thường, cái đẹp thiêng liêng, cái đẹp của thứ hào quang rực rỡ trước mắt Dê-su trên thập tự giá hay Thích-Ca bên gốc Bồ-đề. Cái đẹp mà chỉ hạng người có một tâm hồn mênh mông như De-Su Thích-Ca mới thấy được. Hạng người ấy là ai ? Tức là hạng người dám coi rẻ cái chết của ḿnh v́ cái sống của người khác.

Họ không phải là hạng người sợ sống. Họ yêu đời lắm. Yêu đời đến dám vào chỗ chết để t́m cái sống. Và khi nào hơi thở chưa dứt th́ họ cố bíu lấy đời, bíu một cách không hèn hạ, bíu một cách thanh cao.

Không hèn hạ v́ trên đường đời, nếu họ chịu quay mặt, bước lui, th́ cái ǵ người ta cho là tiện nghi, là hạnh phúc sẽ bày sẵn dưới chưn họ. Nhưng thà chịu đau khổ, chịu chết, cử chỉ đó, họ không làm. Những quyến rủ mạnh mẽ nhất vẫn không lay chuyển được họ. Họ đă đặt lên đó một gạch tréo rồi, và không bao giờ nh́n tới nữa.

Tuy nhiên, họ không từ chối một cái ǵ đem lại cho họ một chút an ủi, nếu cái đó không có tánh cách làm đọa lạc tâm hồn. Họ tiếp đón những con cá trắng của Tiến và các bạn chàng như hài nhi đói sữa tiếp đón vú mẹ. Từ trong núm vú ấy chẳng những chảy ra một ḍng sữa ấm mà c̣n chảy ra cả một nguồn t́nh thương mà nghệ thuật của loài người chưa tả nổi.

Dưới sự chỉ thị của t́nh thương ấy, Tiến đă vui vẻ mỗi ngày cho tay vào ống phẩn, sờ mó đờm dăi, sán lăi, vi trùng, và các bạn chàng coi thường cái lạnh của mùa đông miền sơn cước. Kẻ ăn cá sung sướng bao nhiêu th́ người bắt cá sung sướng bấy nhiêu.

Rồi một hôm, hôm ấy mặt trời đă chuyển mạnh về phương Nam, và gió đông đưa khí ấm từ biển xa về. Tiến không làm công việc mà chàng thường làm một cách đều đặn: đặt tay vào ống phẩn.

Một hồi lâu chàng đứng trên băi cát, nh́n sông, nh́n núi và nh́n ṿm trời vàng rực ánh nắng Xuân.

Lắp xong cần, các bạn chàng giục:

-     Soạn mồi đi chớ, Tiến !

Chàng lắc đầu.

-     Không câu à ! Hôm nay phải về sớm kia mà !

-     Thôi, không câu nữa. Các anh ấy đă tạm bớt bịnh rồi.

-     Th́ câu cho chúng ḿnh. Có lần nào ḿnh hưởng được cá tươi đâu.

-     Nếu v́ cái dạ dày khoẻ mạnh của chúng ḿnh th́ thôi, tôi không bóc phẩn nữa.

 

Vui Sống số 3

Tuần lễ 13 đến 19.09.1959