NHỮNG MỐI T̀NH TRONG KHÁNG CHIẾN

 

Ảo ảnh bờ tre

B́nh-nguyên Lộc

 

Cuối năm 1945, quân Pháp đă chiếm hết miền Nam chỉ trừ chiến khu Tân Uyên.

Tân Uyên là một vùng đất để dụng vơ, rất lợi cho cuộc kiên thủ: trước có sông rộng chắn ngang, sau là rừng trùng trùng điệp điệp.  Một con đường duy nhứt là từ Sàig̣n theo đó mà tiến quân lên th́ hai bên lại lắm đồi cao, rất dễ phục binh ngăn đón.

Nhưng quân Pháp không tiến đánh quận lỵ ấy để chế ngự cả một khu kháng chiến kiên cố sau lưng cái thành phố nhỏ ấy, không phải là v́ khó đánh, mà v́ thủ đoạn chiến thuật.  Theo phép hành quân, họ tránh dồn đối phương vào ngơ bí, sợ e bí quá, đối phương buộc ḷng phải khai huyết lộ th́ chính họ cũng nguy. 

Tân Uyên là một cái túi để cho kháng chiến ta có nơi rút lui, khỏi phải bắt buộc kháng cự dữ.  Và khi ta rút cả vào cái túi ấy, họ sẽ vận dụng tất cả khả năng tấn công của họ để đánh nát cái túi.

Kháng chiến dư biết thủ đoạn ấy, và đă chuẩn bị hẵn ḥi.  Tân Uyên biến thành một thành phố chết, nằm chờ ngày tự tiêu thổ khi giặc đến bên thềm.   Trừ những người có phận sự, c̣n th́ toàn thể dân chúng đều được lịnh tản cư.

Lúc ấy tôi giúp ban tuyên truyền nên thuộc vào những người phải ở lại.  Công việc thiệt là nhàn.  V́ tôi viết văn, nên mỗi ngày phải viết một vài truyền đơn chưởi Tây, rồi giao cho các bạn khác in để đi rải khắp thôn xóm.  Chỉ có thế thôi rồi nằm dài cả ngày mà đọc sách.  Thành phố nhỏ ấy vắng lặng một cách kinh khủng; họ tản cư cả chó gà nữa, nên không nghe một tiếng động nhỏ nào.

Trưa hôm ấy tôi đang lim dim ở hàng hiên nhà tôi th́ bỗng nghe tiếng bước lào rào trên sạn trắng trải sân.  Tôi mở mắt ra th́ rất kinh ngạc mà thấy một cô gái lạ tiến bước vào nhà.

Mặc dầu ít về xứ, tôi cũng biết mặt tất cả mọi người ở tại chợ và ở khắp các làng lân cận.  Cô gái lạ hoắt nào đây, và sao c̣n ở lại chốn nầy trong khi tất cả mọi người đều được lịnh đi xa ?

Cô gái có nước da trắng ấy xinh đẹp lạ kỳ, khiến tôi rùng ḿnh lên trong cảnh vắng lặng không một bóng người qua.  Yêu tinh chăng ?  Cô chỉ mặc áo ngắn vải đen thôi, nhưng trông sang trọng và có vẻ thạo ăn mặc như những người ở các thành phố lớn.  Cô mỉm cười chào tôi rồi đứng ngoài nắng mà nói:

-  Anh cho tôi mua một mớ chanh.

Hàng rào nhà tôi thưa, nên đi ngoài đường, người ta thấy được mọi thứ cây trồng ở sân quanh nhà.

-  Ngỡ ǵ, tôi đáp, cô cứ hái.  Vài bữa ta sẽ tiêu thổ th́ để làm ǵ.

Cô gái đi ṿng ra hông nhà, nhưng tôi không dám ngủ lại.  Tôi cứ sợ dại cô là yêu tinh, và sẽ cắn cổ tôi lúc nào không biết chừng.

Tôi bước theo sau cô, tự nói là để đề pḥng, nhưng thiệt ra v́ lẽ khác mà chính tôi cũng không dám thú với tôi.  Người đẹp ai lại không thích nh́n?

Cô gái hái xong đầy túi vải mang nơi tay, trở ra trước lấy tiền trả cho tôi.  Tôi từ chối:

-  Tôi đă nói với cô là ta tiêu thổ th́, chanh nầy kể như không c̣n nữa kia mà.

-  Cám ơn anh.

-  Nhưng cô mua chanh để làm ǵ trong cảnh chết nầy, và sao cô c̣n được ở đây?

-  Tôi là nữ cứu thuơng ở quân y viện, mua chanh nầy cho thương binh giải khát anh à.

-  À ra vậy?  Chào chị.  Chị ở đâu mà đến xứ nầy?

-  Tôi ở xa lắm.

-  Cố nhiên là xa.  Nhưng thôi, không dám biết chuyện trước của chị.  Công việc của chị có nhọc lắm không ?

-  Khá nhọc.  Nhưng tôi yêu nghề, nên nghe thích.  Chào anh, ở đẳng c̣n công việc đợi tôi.

-  Chào chị.  Cứ hết chanh th́ chị trở lại đây.

Chiều hôm đó, tôi hỏi anh S. làm ở Q .G .T .V .C. về cô gái mua chanh.  Anh ta cười ha hả mà rằng :

-  Ban tuyên truyền đáng lư là thổ công mới phải, nhưng anh lại ngáo như ông thầy tu.  Ở đây ai lại không biết chị L. trừ anh ra.

Rồi, anh ta nhỏ to cho tôi biết thêm rằng tất cả cán bộ trai trẻ trong vùng đều yêu thầm chị L. và ai cũng tin là chị L. yêu họ  Cuộc đời kháng chiến khô cằn nhờ thế mà được thơ mộng phần nào.

Sau nầy, nhớ là năm 1947, có một tờ báo hằng ngày ở đây đề cao chiến sĩ kháng chiến, có nhắc đến một vụ cưa chơn một chiến sĩ tại quân y viện Tân Uyên mà không có thuốc mê.  Cả quân y viện đều hát lên để kẻ bị cưa chơn ấm ḷng, có can đảm chịu đựng sự đau đớn ghê hồn đó.  Bài ấy, nếu nhớ không lầm là của ông Trần Tấn Quốc.  Nhưng có một chi tiết mà tác giả bài báo kia bỏ sót là nguồn xoa dịu đau đớn cho anh chiến sĩ bị cưa chơn, thật ra không phảI là bài hát cho lắm, mà là những cái xoa đầu của chị L.  Chị L. thường xoa đầu các thương binh như một người chị vuốt ve em dại, và bàn tay tiên ấy luôn luôn thoa dịu mọi nỗi đau nơi ḷng hay ở thân xác.

Chị L. đến mua chanh như thế trong năm lần nữa, và tôi được dịp làm quen thân với chị.  Lúc ấy tôi c̣n trai trẻ, nên cũng bâng khuâng như bất kỳ ai.

Một đầu hôm kia, đang chong đèn đọc sách, tôi nghe ồn trước nhà tôi.  Mở cửa chạy ra th́ tôi thấy một đoàn người khiêng cái ǵ xuống bến Đồn, cái bến nước công cộng ở ngay cửa ngơ nhà tôi.

Tôi nh́n kỹ trong bóng tối đầu hôm th́ mới hay họ khiêng người.  Th́ ra quân y viện dời trụ sở, mà đi bằng đường thủy.  Dưới sông, gần hai mươi chiếc ghe lớn đen thui nổi bật lên nền nước sáng mờ.

Ư nghĩ đầu tiên của tôi là thành phố cuối cùng của miền Nam sẽ tràn ngập máu lửa nay mai v́ bóng quân Pháp đă lảng vảng ở ranh làng.  Sự di chuyển nầy là một báo động kín đáo nhưng chắc chắn, v́ ban t́nh báo của bộ đội làm việc cũng khá hiệu quả.

Ư nghĩ thứ nh́, chắc ai cũng đoán biết là chị L. sẽ đi xa.  Từ đây trong cảnh hổn loạn của chiến tranh, chúng tôi sẽ không c̣n nguồn an ủi nào nữa.

Tôi lần bước xuống bến th́ may quá, gặp chị L. đang đứng trên cầu tàu ngó mông ngoài sông rộng.  Tôi hỏi :

-   Chị đi à ?

-   Như anh thấy.

-   Buồn quá!

-   Sao lại buồn.  Ở đâu cũng làm việc kia mà.

Chị L. không thế nào hiểu được nỗi buồn của chúng tôi.  Riêng chị, chị cũng buồn, vẻ buồn luôn luôn có trên mặt chị.  Nhưng đó là nỗi buồn khác.

Vào khoảng 9 giờ đêm, những người có phận sự mời chúng tôi rút lui để tránh tiết lộ hướng tản cư của quân y viện.  Tôi vâng lời họ, nhưng rất dễ biết là họ sẽ ngược sông Đồng Nai mà lên nguồn, chớ không lẽ lại xuôi xuống Sàig̣n hay sang ngang để đi tỉnh lỵ Biên ḥa là nơi đă bị chiếm từ lâu.

-   Chị đi mạnh giỏi nhé, vĩnh biệt!

-   Sao lại vĩnh biệt?  Từ giă chớ!  Anh ở lại rán mà giết giặc.

Tôi cười ha hả mà rằng:

-  Tôi viết vặt th́ có, chớ tay không, giết giặc làm sao cho được.

-  Ấy, anh có cây bút, cũng như là cây súng, anh viết vặt để xúi người khác giết giặc th́ cũng thế thôi.

Trở lên nhà, tôi núp sau cánh cửa mà nh́n ghe nhổ neo, mang đi, không bao giờ đưa trở lại, con người đẹp và dễ thương đă an ủi tất cả chúng tôi trong bao lâu rồi.

Nửa tháng sau, Tân Uyên tự tiêu thổ rồi thất thủ luôn.  Chúng tôi bắt đầu cuộc sống trôi nổi b́nh bồng trên bước đường du kích chiến.

Một hôm, tơi bời lực lượng sau trận Lạc An, chúng tôi trôi giạt lên Sông Bé.  Sông Bé, mặc dầu được gọi là sông, chỉ là một con rạch đổ ra hữu ngạn sông Đồng Nai.  Sông tuy hẹp, nhưng sâu lắm, và bờ sông cao cách mặt nước đến mười thước.  Bờ sông cao ấy, được xây cao thêm bằng một bức tường tre xanh ŕ rào dưới gió.

Chúng tôi vừa đến nơi là thấy bên kia rạch có đám ma to.  Mặc dầu sợ tàu bay, quân đội, cán bộ và nhơn dân có mặt rất đông đảo ngoài đất trống, quanh cỗ quan tài.

Hỏi một nhà thợ rừng bên nây bờ sông th́ hay rằng kẻ bạc mạng là một cô nữ cứu thương đă tự trầm dưới Sông Bé hôm qua.

Linh tánh báo điềm dữ, chúng tôi vội vả đốn tre để kết bè sang sông v́ ở đó ghe xuồng đều bị đánh ch́m cả, đề pḥng quân địch lợi dụng nó để sang bên kia.

Đến nơi, cả bọn chúng tôi đều rụng rời mà biết được rằng kẻ quyên sinh là chị L.  Trời ơi!  Con người can đảm thế kia hôm chia tay, sao lại đến tự tử?  Ắt hẳn đây là một câu chuyện t́nh không lối thoát!

Thế là chị đă yêu !  Mà người chị yêu không phải là chúng tôi.  Tuy nhiên tất cả đều mang nhẹ nơi ḷng mối t́nh ảo tưởng, êm êm, câm lặng, đối với con người đă yêu kẻ khác ấy, và phần đông những anh trai trẻ đều làm bộ có tâm sự riêng, để người ta ngờ rằng chị L. đă yêu chính họ.

Trong bọn chúng tôi có anh Th.  Anh Th. là người bổn xứ, nhưng làm việc ở Bưu điện Chợ lớn.  Anh ta rút lui về làng khi Sàig̣n thất thủ, và giúp việc cho Văn hóa Cứu quốc.

Anh nầy th́ đậm hơn cả.  Suốt ngày, anh cứ ra bờ tre ở b́a Sông Bé, đi thơ thẩn rồi hết nh́n ḍng nước đến ngó lên ngọn tre.  Khi mơi mệt, anh ngồi trên nệm lá tre khô hàng giờ, tai như lắng nghe tiếng bí mật nào của người chết từ cơi hư vô bay đến.

Ai cũng cho là anh ta làm bộ số dách trong bọn.  Riêng tôi, tôi thấy mối sầu của anh là thật.  Nói thế, không phải cho rằng chính anh là người nhơn t́nh bí mật của chị L., mà là để nói là anh sầu t́nh thật sự và sầu đậm lắm.

Trưa hôm ấy, anh Th. kéo tôi ra bờ rạch, để tay lên vai tôi, bắt tôi ngồi xuống đất, và lâu lắm anh mới hỏi sau cái im lặng khó hiểu của anh:

-   Có nghe ǵ không?

-   Gió ŕ rào trên ngọn tre.

-   Không phải.  Anh có nghe tiếng máy may chạy xành xạch chăng?

Tôi mỉm cười, ra vẻ chế nhạo anh ta.  Cứ theo lời các cán bộ ở đây kể lại th́ trước đó, mỗi ngày chị L. đă ra đây để may máy bằng chiếc máy Singer đặt ở đó.  Quên nói rơ rằng bờ Sông Bé bên kia hoang vu, c̣n bên nầy có một xóm nhỏ mà nhà nào cũng chật như nêm v́ bộ đội và cán bộ ở trọ rất đông trong đó.  Chị L. đặt máy may dưới bụi tre cho đỡ chật nhà người ta.

-   Nầy nghe!

FFTh. để tay lên đầu tôi, đôi mắt anh xa xăm hơn bao giờ cả.  Buồn cười, tôi vẫn buộc ḷng phải nghe và lạ lùng thay, quả thật nghe tiếng máy may chạy xành xạch thật.  Đó là một loạt tiếng động đều đều, khác hẳn tiếng lá tre khô xào xạc dưới gió.

 

Thật là kinh dị.

 

-         Nè, người ta bảo nhỏ với nhau rằng L. có thai.  Mà gái có thai, chết oan, linh hiển lắm.

 

Th. nói rồi buông vai tôi ra, tiến bước vào gốc tre.  Trông anh như một con chó săn đang đánh hơi để t́m con thịt.  Mắt anh như muốn bươi trong khóm tre để t́m một vật đă rơi trong đó.  Không t́m thấy ǵ, anh lại đi qua mấy gốc tre lân cận.  Rồi thất vọng lắm, anh lại bước thẫn thờ trở ra.

 

Bóng dáng yêu kiều của người chết vẫn c̣n quanh quất đâu đây, và Th. như không c̣n ở đó nữa.  Anh ta là một cái xác không hồn, v́ hồn anh đang săn đuổi hồn L., L. mà có lẽ anh yêu tha thiết lúc nàng c̣n sống, nhưng không được.

 

Riêng tôi, mặc dầu không si, tôi cũng bùi ngùi hết sức…. Người bạn gái ngày nào, mà giọng nói, cười như c̣n văng vẳng đâu đây, giờ đang đi xa lắm, trong chốn âm ty mịt mù sương, tôi không c̣n bao giờ nh́n lại được đôi con mắt đen và ươn ướt của chị nữa.

 

Tiếng máy may cứ chạy đều đều, thỉnh thoảng lại im bặt, trong những lúc ấy th́ chúng tôi tưởng tượng như là chị L. đang sửa lại mũi kim, hoặc đang xếp lằn vải của chiếc áo người chiến sĩ đang may.

 

Kể từ ngày ấy, Th. càng quyến luyến bờ tre hơn.  Lắm đêm, anh ra đó rồi ngủ luôn ở đấy dưới gió rừng tháng chạp lạnh thấu xương.  Anh bảo rằng về đêm, tiếng máy may càng nghe rơ khi càng đi sâu vào khuya.

 

Và kể từ ngày ấy, do tôi đồn ra, phần đông cán bộ và chiến sĩ trong vùng đều có đến đó ít lắm là một lần để nghe tiếng máy và để tưởng niệm người quá cố.

 

Cuộc hành hương êm đẹp ấy bỗng một hôm bị một anh ở Quốc gia tự vệ cuộc làm mất hết nét thơ.  Anh ta khám phá ra được rằng tiếng xành xạch đều đều kia chỉ là tiếng một chiếc lá c̣ ke ở đâu bay đến, và cuống lá kẹt giữa hai cây tre, ngọn lá phất phơ bay, mỗi lần gió thổi lá đánh phành phạch vào cây tre lân cận, khiến càng về khuya, càng nghe rơ v́ về khuya gió rừng thổi dữ hơn ban ngày và đầu hôm.

 

Năm người bạn trong đó có tôi, nghe cuộc tiết lộ nầy xong, thất vọng vô cùng.  Phản động tự nhiên của chúng tôi là năn nỉ anh ấy đừng thố lộ cho ai rơ nguồn gốc của tiếng máy may ma kia.

 

Thật là khó thương lượng.  Anh ta là một kẻ chỉ biết thờ sự thật, và rất ghét thơ mộng.  Làm thế nào để anh ta thông cảm với chúng tôi trong quan niệm rằng ảo ảnh lắm khi rất cần.  Chị L. chết, nhưng hồn c̣n quanh quẩn theo ta, như thế có an ủi hay không và có giúp can đảm thêm cho ta hay không?

 

Nhưng rốt cuộc chúng tôi cũng thuyết lư anh ta được.  Mồm mép tuyên truyền mà lị!

 

Và kể từ đó cuộc hành hương về bờ tre cứ tiếp diễn, mối t́nh thầm lặng ủ kín trong ḷng mọi người cứ được nuôi sống bằng tiếng máy Singer cho đến già một năm chiếc lá c̣ ke kia mục nát cả th́ hết nghe ǵ nữa.

 

Lại một bận ngậm ngùi.  Người ta tự hỏi hồn chị L. đi về đâu, và biết bao giờ về để may áo chiến sĩ nữa.

 

B́nh-nguyên Lộc

VUI SỐNG số 2

Tuần lễ từ 16 – 22.09.1959

 

 

           

© Binhnguyenloc.com