SÀIG̉N 50 NĂM TRƯỚC

 

Một nghề đă chết

 

Hồi-kư B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Thuở ấy, người ḿnh (khắp nước) có bao nhiêu tiền, chôn hết bấy nhiêu, cất trong tủ gỗ, sợ ăn cướp.

Chôn tiền bằng kim-khí th́ c̣n, nhưng chôn tiền giấy, sau lấy lên tiền mục hết, ngồi đó mà khóc.

Người Pháp họ thấy cái việc chôn tiền của ta, rất có hại cho nền kinh-tế, bởi đó là đồng tiền chết không sanh lợi, không lưu-thông, trong nước có 10 đồng hóa ra không có đồng nào, chớ không phải có 10 đồng hóa ra 10 ngàn, nhưng nếu tiền chuyền tay, họ không đồng-ư, nhưng không có cách nào ngăn chặn, thành-thử họ đồng-lơa với ta, v́ sự đồng-lơa làm giảm bớt phần nào tệ-hại.

Họ nhập-cảng tủ sắt để bán ra từ chợ đến quê.  Ở Sàig̣n, hiệu buôn lớn nào cũng có bán tủ sắt mà quan-trọng hơn nữa là có vài hiệu buôn chỉ bán độc một món tủ sắt mà thôi.

Thế mới biết tủ sắt bán chạy tới mức nào, v́ sắm tủ sắt tức là tiếp-tục thói chôn tiền, không chôn dưới đất mà chôn trong sắt vậy.

Đó là chuyện 50 năm trước.

Nhưng ngành buôn tủ sắt sa-sút đi, v́ ăn cướp khám-phá ra rằng đóng tủ sắt, coi th́ dày, nhưng thật ra trong đó là cát, đập bể lớp sắt mỏng ở dưới hết, cát tràn ra rồi đập bể thêm lớp sắt mỏng làm nền tủ, là … ăn tiền.

Các ông nhà giàu ở thôn-quê mất của kêu trời, các hiệu bán tủ sắt ở Sàig̣n cũng kêu trời v́ ế khách.  Tuy-nhiên nghề buôn tủ sắt cũng chẳng chết ngay, nó vất-vưởng, hấp-hối cho đến 1945 mới tắt thở, v́ nạn cháy nhà ở thôn-quê, chưa từng xảy ra từ cổ chí kim, không bị ăn cướp mà bị bà hỏa th́ tiền cũng mất.

Các ông nhà giàu ấy chạy hết ra các thành-phố và bắt đầu biết mở chương-mục ở các ngân-hàng.  Bấy giờ th́ tủ sắt hóa ra đồ cổ rồi, măi cho đến ngày nay.

Đó là một món đồ hấp-hối đến 30 năm, từ 1915 cho đến 1945, nhưng một món khác chỉ hấp-hối có vài hôm là ngũm cù-đeo tại Sàig̣n.

Đó là một món đồ quan-trọng vào bực nhứt trong đời sống của con người: Tiền.

Tây đến chinh-phục ta, bày tiền Tây nhưng c̣n nh́n nhận một thứ tiền ta là đồng Điếu, đồng nầy giá-trị giá 1 phần trăm của đồng xu, tức là 1 phần năm trăm 1/500 của một đồng bạc.

Cách đây 50 năm, tại Sàig̣n, một đồng điếu mua được một gói muối cỡ 1đ bạc ngày nay, tức giá sanh-hoạt đă lên 500 lần nhiều hơn trong ṿng 50 năm.

Cái đồng tiền của dân Annam ấy, nhà nước Đại-Pháp Lang-Sa nh́n nhận, và nó cứ lưu-hành măi th́ một hôm, tại Sàig̣n, không c̣n nhớ là cách đây mấy mươi năm, một nhóm người bỗng-dưng không nh́n nhận và nhà nước Đại-Pháp Lang-Sa nhiều súng ống là thế, cũng đến phải xếp giáp qui-hàng th́ đủ biết nhóm người ấy mạnh-thế đến bực nào: đó là người Khách-trú.

Đó là một cuộc leo thang của giá sanh-hoạt đầu tiên tại xứ Nam-Kỳ đang yên-ổn với bao nhiêu cái cũ ngàn đời.  Các chú không bán hàng 1 đồng điếu nữa, mà bán một đồng xu, tức là cho leo thang 5 nấc rồi vậy.

Dĩ-nhiên là con buôn nho-nhỏ của ta cũng a-dua theo v́ họ có lợi mà bắt tay với người Trung-Hoa.  Một tô nước chè Huế. Giá một đồng điếu, th́ bấy giờ không phải là lên ngay 1 xu đâu mà bắt ta mua kèm thêm 1 miếng trầu, một điếu thuốc G̣-Vấp, ba thứ 1 xu.

Kể ra th́ uống cả một tô chè nóng rồi ăn trầu, hút thuốc mà tốn có 1 xu th́ quá rẻ … đối với ngày nay, chớ thuở ấy nó làm cho anh-hùng phải méo mặt.

Đồng điếu, đầu hôm sớm mai. phải hui nhị-tỳ Quảng-Đông.  Ở các tỉnh, đồng tiền ấy c̣n được tiếp-tục nh́n nhận thêm, 5 bảy năm nữa rồi cũng phải chết luôn.

Hôm qua, tôi vào nhà bưu-điện trung-ương mua thử một con tem gởi thơ bằng đồng năm hào mà chánh-phủ tuyên-bố c̣n giá-trị.

Nhà bưu-điện, ít lắm là pḥng bán tem, từ-chối loại tiền ấy.  Nhưng tôi chỉ đùa chơi thôi, thử xem các công-sở có tuân-lịnh của chánh-phủ hay không, chớ đồng năm hào đă hui nhị-tỳ từ năm 1961 rồi c̣n ǵ, mặc dầu nhà nước có tuyên-bố rằng nó c̣n giá-trị lưu-hành.

Bọn con buôn mạnh-mẽ thật chớ không phải chơi, chính họ làm quyền trong nền kinh-tế … tự-do.  Nhưng kinh-tế chỉ-huy với 3 nhơn-viên kiểm-soát, cho Đô-thành Sàig̣n Chợlớn th́ thà là cho tự-do hơn.