SÀIG̉N 50 NĂM TRƯỚC

 

                                                Gia-Tân trạm cũ

 

                                              Hồi-kư B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Ngồi giải-khát nơi quán „Ngân-Đ́nh“, ta không sao không nhớ hai câu thơ:

Gia-Tân nền trạm thuở xưa

Ngày nay có dựng cột cờ gần bên

Đó là thơ trong quyển « Kim Gia-Định Phong-Cảnh vịnh“, tập thơ nầy nối theo tập „Cổ Gia-Định vịnh“ cả hai đều do cụ Trương-Vĩnh-Kư xuất-bản năm 1882.

Th́ ra, nơi đây ngày xửa ngày xưa là một cái trạm, trạm ǵ, thơ không nói rơ, tên là trạm Gia-Tân.

Không thể sợ lầm-lẫn, bởi có bằng-chứng là cây cột cờ dựng gần bên ngày nay, đó là cột cờ Thủ-ngữ.

Chỉ tiếc là chủ quán quá kém thẩm-mỹ, sau vài tháng bán buôn, đă lợp nóc cho cái quán lộ-thiên ấy, thành-thử khách chỉ c̣n biết ngậm-ngùi qua lời thơ, chớ không làm sao thấy được cột cờ.

Nhưng ngày xưa„ngày nay“ trong thơ, khác ngày xưa và ngày nay của ta „Kim Gia-Định vịnh“, đối với ta, đích-thị là „Cổ Sàig̣n vịnh“ vậy.

Tác-giả vô-danh, của hai tập thơ nói trên, đă hoài-cổ, cái cổ đối với ông ấy th́ ta, ta cũng hoài-cổ nhưng thật ra th́ hoài cái kim của ông ấy vậy.

Quán Ngân-Đ́nh ngày nay, hay Gia-Tân trạm ngày xưa ǵ nguyên giữa đó là một cái quán lộ-thiên, được lập ra lối năm 1900, do một tư-nhơn người Pháp có sáng-kiến lợi-dụng cái doi đất tự-nhiên ấy.

V́ quán mở trên một mũi đất (Pointe) nên được đặt tên là „Quán mũi đất của bọn đấu láo“ (Bar de la Pointe des blageurs).

Ông chủ quán Tây ấy chỉ có việc thuê đất đă thành rồi sắm ghế sắm quầy thế là xong.  Nói như vậy hơi bất-công v́ thật ra ông Tây ấy đă bỏ vốn ra khá nhiều để rào quán lại bằng một hàng rào sắt (không thôi khách đấu láo, họ say rượu ngă xuống dưới sông chết đuối mất) mà để cẩn đá ba bờ đất v́ đất Sàig̣n nê-địa, không cẩn đá không xong.

Thuở ấy quán chỉ mở cửa vào mùa khô từ tháng mười một ta đến cuối tháng năm, v́ là quán lộ-thiên và chỉ bán rượu thôi (không có thức ăn, không có chiêu-đăi-viên).

Những chậu cây cảnh ngày nay vẫn c̣n mang hai chữ hiệu P.B. trên thành chậu.

Thuở bé, tôi rất ưa ra đó để coi ông Tây bà Đầm uống rượu, không phải đó là một tṛ hay-ho ǵ đâu, mà chính v́ nó không hay-ho ǵ cả, nên làm tôi rất ngạc-nhiên, ṭ-ṃ t́m hiểu.

Tôi tự hỏi họ nói với nhau cái ǵ mà măi ba bốn tiếng đồng-hồ vẫn chưa chán, không nghe ai cười không thấy ai múa tay múa chơn vậy mà chiều nào họ cũng ra đó ngồi.

Khách người ḿnh tuyệt-nhiên không có, có lẽ không phải v́ ta không thích đấu láo nhưng v́ hai xă-hội ta, và Tây là hai thế-giới riêng biệt, ít chịu ḥa ḿnh với nhau.

Đứng tại Quán mũi đất của bọn đấu láo nh́n tàu phương xa cũng là một thú-vị mà tuổi bé mơ-mộng của tôi thường đưa-đẩy tôi đến đứng ngoài hàng rào, nghe các ông Tây xí-xô xí-xào, nghe c̣i tàu hụ, nh́n khói tàu viết chữ nhứt trên nền trời xanh để mơ viễn-xứ.

Tây đi, quán bị bỏ luôn; lẽ dĩ-nhiên là đất lại về đô-thành, và đô-thành lời được hàng rào sắt và bệ đá cẩn.

Năm 1961 một tư-nhơn Trung-Hoa lại thuê mũi đất ấy để lập ra quán Ngân-Đ́nh c̣n tồn-tại đến năm nay 1967.

Ngay đêm khai-trương, tôi đă có mặt để sống lại kỷ-niệm thuở bé và bấy giờ tôi mới hiểu mấy ông Tây đă nói cái ǵ với nhau mà lâu thế.  Họ chỉ đấu láo thôi, như bọn tôi năm ấy.  Và tôi đă lời trong đêm đấu ấy ba cái truyện ngắn, cả ba đều đăng ở Văn-Nghệ Tiền-Phong.

Trong sáu tháng đầu, Quán Ngân-Đ́nh giữ truyền-thống cũ, nghĩa là lộ-thiên và chỉ bán rượu thôi.  Họ c̣n thi-sĩ hơn quán cũ là trải sạn trắng trên sân đất, và thắp đèn mờ, giấu trong vỏ ṣ.

Nhưng rồi họ làm bậy là lợp nóc, tráng xi-măng cái sân đất, bỏ đèn mờ, bán thức ăn nên bọn đấu láo rút lui lần-lần.

Người ḿnh có danh là tồn-cổ, nhưng thật ra, ta không tồn được bao nhiêu cái cổ.  Ngay cả ở Hànội, cũng chẳng có cái quán nào sống dai ba mươi năm th́ c̣n nói chi là Sàig̣n trong khi đó th́ ở Vienne, kinh-đô nước Áo, có những cái quán tam-bách-dư-niên rồi, ở Ba-Lê cũng có những cái quán già trên một thế-kỷ.

Kể ra th́ Sàig̣n c̣n được cái quán 70 tuổi đó cũng là một chuyện đáng nói tới.

 

T.B.:  Đặc-biệt kỳ nầy, bài trích ở quyển „Những bước lang-thang trên hè phố của gă B́nh-nguyên Lộc, tập 2“ (sắp xuất-bản)