SÀIG̉N 50 NĂM TRƯỚC

 

Da trắng sợ da vàng

Hồi-kư B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

Câu chuyện sau đây đă xảy ra năm 1930 th́ phải.  Không chắc lắm.  Nhưng cái vật ấy không đáng kể.  Chỉ có sự-kiện mới đáng được các bạn chú-ư đến.

Thuở ấy tôi vào Trung-học rồi, nhưng vẫn c̣n sợ ông Tây bà Đầm phần nào, nỗi sợ gần như là tiền-kiếp, chưởi Tây lu-bù nhưng thật ra th́ hơi c̣n mặc-cảm.

Một hôm vào sáng chúa-nhựt, tôi đi dạo Thảo-Cầm-Viên th́ gặp một đám người da trắng rất lạ-kỳ.

Đàn ông của họ râu-ria xồm-xoàm như đi lạc trong rừng sâu đă hai tháng rồi, rách-rưới lang-thang không thể tả.  Phụ-nữ th́ tương-đối lành hơn, nhưng rất thô-kệch, da mặt sạm nắng đen thui.

Họ cũng đi dạo thảo-cầm-viên mà mang theo mỗi người một bầu nước, loại bầu khô mà người Á-Đông ta ngày xưa dùng đựng nước, ngày nay th́ ở thôn-quê c̣n dùng đựng nước, thỉnh-thoảng họ tháo bầu ở lưng quần ra, ngửa mặt lên trời, rót nước vào miệng để giải-khát.

Họ mặc một thứ Âu-phục không ra Âu-phục, vài anh mặc áo xá-xẩu Trung-Hoa.

Kỳ-lạ lắm là họ lấm-la lấm-lét như sợ tất cả mọi người chung-quanh họ.  Chúng tôi, một bọn năm bảy đứa học-tṛ, đi lại gần họ v́ ṭ-ṃ, họ hoảng lên trông thấy.

Lần đầu tiên, chúng tôi chứng-kiến cảnh ông Tây bà Đầm sợ da vàng, và chúng tôi đă ngẩn-ngơ rất lâu, không hiểu ǵ cả.

Tối lại, vào trường, hỏi giám-thị, các thầy mới giải-thích cho biết rằng đó là những người Do-Thái Trung-Hoa.

Sau khi mất nước, dân Do-Thái lưu-lạc khắp nơi trên quả địa-cầu, họ ở nơi nào th́ được gọi kèm với tên xứ ấy, sau tên của dân-tộc họ: Do-Thái Pháp, Do-Thái Đức, Do-Thái Ấn-Độ, Do-Thái Trung-Hoa.

Năm ấy Anh cai-trị Trung-Đông.  V́ một lư-do chánh-trị và kinh-tế, họ đưa một số người Do-Thái tứ xứ về Palestine, quê-hương cũ của Do-Thái.

Khách da trắng đi xem thảo-cầm-viên khi sáng là người Do-Thái Trung-Hoa trên đường hồi-cố-quận, ghé xem Sàig̣n v́ thương-thuyền chở họ đậu ở đấy hai hôm để lấy hàng.

Kẻ mất nước, không được chánh-phủ nào bảo-vệ cả, thường bị bố-ráp khắp nơi, bất-cứ v́ lẽ ǵ, đôi khi không v́ lẽ ǵ cả, cho đến đỗi họ mất hết tự-trọng dân-tộc, thấy ai cũng sợ, th́ quả thật là tấm gương đáng sợ.

Bọn trẻ con chúng tôi phồng mũi chỉ có mấy tiếng đồng-hồ v́ đă được người da trắng sợ-hăi, th́ lại buồn vô-hạn khi nghe lời giải-thích trên của mấy thầy giám-thị thạo thời, chánh-trị và sử-địa.

Sợ ông Tây bà Đầm hay được ông Tây bà Đầm sợ, th́ ra, không phải là cái nhục, mà cũng chẳng phải là một hănh-diện.  Tất cả những cái ấy đều không đáng kể.  Đó là tính-cách rất con người của kẻ bị mất quyền, dân-tộc nào cũng thế.

Nhưng cốt là không mất luôn.  Người Do-Thái không mất luôn.  Cứ nh́n nổ-lực kiến-quốc của họ ngày nay th́ biết họ vẫn c̣n là họ, một dân-tộc có hănh-diện quốc-gia.

Câu chuyện trên đây là câu chuyện dở nhứt trong loạt bài hồi-kư nầy, nhưng tôi lại nhớ nó dai nhứt và h́nh-ảnh của những ông Tây bà Đầm sợ người da vàng ấy, thỉnh-thoảng cứ hiện lên trước mắt tôi, mỗi lần dân ta đứng trước một ngă ba số mạng.

Làm ǵ th́ làm, thua trận hay mất nước ǵ cũng cần giữ cái ǵ sâu kín nhứt trong ta, chính cái đó nó giúp dân-tộc Do-Thái không bị tiêu-diệt luôn, mặc dầu có một thời họ đă bê-bối quá lẽ, sợ đến cả người da vàng.

Nhưng cái ấy là ǵ th́ đó là một câu chuyện khác không thể nằm chung với một bài hồi-kư.