SÀIG̉N 50 NĂM TRƯỚC

 

                                                     Bọt xà-bông

 

                                               Hồi-kư B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Tôi đang bóp trán để nhớ một tích xưa chuyện cũ hầu viết bài cho mục báo nầy th́ một người mặc áo dài bằng xuyến Bắc đến trao cho tôi một b́ thơ, không đề tên ai và không niêm phong.

Tôi mở thơ ra xem th́ ra đó là thiệp mời cúng Kỳ-Yên của đ́nh làng Nhơn-Ḥa.

Các bạn có biết làng Nhơn-Ḥa ở đâu không?  Đó là một vùng chạy dài từ Cầu Ông Lănh đến Cầu Kho, và cái đ́nh ấy đă bị biến thành rạp hát từ trên 50 năm rồi, rạp Cầu Muối.  Làng đă mất-tích, vậy mà ban cúng cầu-an, cứ c̣n tồn-tại th́ đủ biết cái đ́nh đă ăn sâu vào tâm-năo của dân ta đến như thế nào và chắc-chắn việc thờ thành-hoàng là tôn-giáo đặc-biệt Việt-Nam, nên ta mới bám níu vào lễ cúng Kỳ-Yên đến như thế.

Theo tài-liệu của Trương-Vĩnh-Kư th́ cuộc đất mà nay là thành-phố Sàig̣n nguyên ngày xưa là 40 làng bao quanh thành Phan-Yên tức thành Gia-Định, tương-đối rất nhỏ, nằm lối nhà thương Đồn Đất ngày nay.

Đó là bốn chục làng ngoại-ô phụ-cận của kinh-đô của trấn Nam-Kỳ mới thành-h́nh.  Trong 40 làng ấy có hai làng rất danh-tiếng là làng Chợ Quán của Trương-Vĩnh-Kư và làng Nhơn-Ḥa quê-hương của Tôn-Thọ-Tường.  Trong quyển „Sàig̣n năm xưa“ cụ Vương-Hồng-Sển có kể rơ các đ́nh làng xưa c̣n lại, nhưng đă quên mất cái đ́nh Nhơn-Ḥa rất danh-tiếng nầy, danh-tiếng v́ đó là đ́nh làng của Tôn-Thọ-Tường, và danh-tiếng v́ tánh-cách kỳ-lạ của rạp Cầu Muối (xin xem bài „Hát hai xuất“).

Đ́nh làng của Trương-Vĩnh-Kư nay cũng c̣n, mà c̣n đến hai cái (làng nầy có 3 ấp, 3 đ́nh) mà một là đ́nh Tân-Kiểng, cũng đă biến thành rạp hát cá kèo từ lâu rồi.

Cầm tấm thiệp mời, tôi bâng-khuâng rất lâu mà nghĩ đến những người già-cả, họ bám níu vào một làng cổ bị thành-phố bao bọc và nuốt mất đi.  Năm ba năm nữa các cụ trong ban tổ-chức ngày nay qui-tiên rồi th́ không c̣n dấu-vết cỏn-con nào của cái làng của Tôn-Thọ-Tường nữa cả.

Cách đây 10 năm, xem lại tài-liệu cổ tôi đă đi t́m dấu nền nhà của Tôn-Thọ-Tường tại dốc Cầu Ông Lănh.  Nơi đó, lúc bấy giờ là một tiệm buôn đồ gốm Lái-Thiêu, cũng có vẻ cổ-kính lắm, nhưng di-tích Tôn-Thọ-Tường vẫn không thấy đâu.

Rồi ông Đô-trưởng dưới thời ông Diệm đuổi hiệu buôn ấy cho rộng chơn cầu th́ sự mất-mát lại c̣n to lớn hơn.  Sau ngày Cách-mạng 1 tháng 11 năm 1963, thiên-hạ lại tràn tới chiếm nơi đó và ngày nay, chỗ ấy bẩn và hổn-loạn không thể tưởng-tượng được.

Sau khi ra đầu Tây, Tôn-Thọ-Tường đă than:

Lặng-lẽ chuông quen cơn bóng xế

Ṭ-te kèn lạ mặt trời chiều

Những tay rượu-thánh thơ-thần cũ

Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu!

Họ Tôn tiếc bao nhiêu th́ ta cũng ngậm-ngùi bấy nhiêu, mà ngậm-ngùi nhứt là khi tôi h́nh-dung ra các cụ trong ban tổ-chức Kỳ-Yên đ́nh Nhơn-Ḥa.

Tôi đang sống giữa làng Nhơn-Ḥa, họ không biết tôi, nên không đề địa-chỉ, nhưng họ cứ mời, mời từng nhà một, cầu may có gặp bạn tri-kỷ hay là không.  Thương quá!

Thưa các cụ, tôi là tri-kỷ của các cụ đây, nhưng tôi không đi dự đám cúng Kỳ-Yên là v́ tôi đă đi một lần, đă thấy một con chuột cống thật bự chạy tự-do trong đ́nh rồi chui vào lỗ của thùng đàn của một cây ghi-ta của ban nhạc đ́nh.  Tôi kinh-sợ quá nên không dự nữa.

Nhưng tôi nằm nhà mà cứ là tri-kỷ của các cụ hơn bất-kỳ ai, bởi v́ tôi đă biết một thành-phố Sàig̣n mấy mươi năm từ trước, đă hơi-hơi nhớ thành-phố ấy, nên rất cảm-thông với các cụ là những người đă nhớ một Sàig̣n xưa hơn, đă nhớ một làng Nhơn-Ḥa chứa-chấp ngôi nhà của Tôn-Thọ-Tường, khít vách một ngôi nhà khác danh-tiếng hơn nhiều: đó là dinh của đại-sứ Việt-Nam Nguyễn-Thành-Ư, người đại-diện cho triều-đ́nh ta bên cạnh kẻ xâm-lăng, thuở mà Huế c̣n chủ-quyền, chỉ mới mất Sàig̣n thôi.