SÀIG̉N 50 NĂM TRƯỚC

 

Băm lăm

Hồi-kư B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

Bài nầy là bài thứ băm lăm trong loạt hồi-kư ngắn nầy.

Mặc dầu nhà báo không đánh số kẻ viết bài cũng cứ đánh để xem ḿnh đă có quyền mỏi tay hay chưa.  Và khi nh́n lại con số trên đầu bài tôi bỗng bật cười và lẩm-bẩm: „Ḿnh phải nói chuyện con dê Sàig̣n ngày xưa mới được.“

Vậy xin nói chuyện con dê 35.

Thuở ấy Bàn Cờ là rừng rậm.  Nhiều nhà „khảo-cổ „ quả-quyết rằng địa-danh Bàn Cờ do t́nh-trạng khu ấy được đường phố phân chia ra như cái bàn cờ.  Thật là đoán ṃ.  Địa-danh Bàn Cờ đă có rồi, lúc tôi lên 6, lên 7, có lẽ có trước đó nữa cũng nên mà thuở ấy th́ đường phố ở đó, chưa ra đời, chẳng hạn như đường Cao-Thắng, đường Trần-quí-Cáp nối dài và quan-trọng nhứt là Phan-đ́nh-Phùng nối dài c̣n nói ǵ Cao-Thắng, Nguyễn-thiện-Thuật, Vườn Chuối là phụ-đạo th́ càng chưa có hơn.

Năm 1952 tôi đi đưa đám ma một người bà con nghèo cư-ngụ xóm đó th́ đường Phan-đ́nh-Phùng nối dài chỉ mới được đổ đất thôi, chớ cũng chưa trải đá nữa.

Vậy Bàn Cờ là rừng rậm.  Đó là rừng chồi, cây cối tuy dày mịt nhưng không to lắm!  Trong rừng có những khoảng đất trống hoang cỏ mọc.

Đó là nơi nuôi dê của người Ấn-Độ, họ nuôi mỗi người hằng trăm con, và rất nhiều người Ấn làm nghề ấy.

Nhưng ai tiêu-thụ dê?  Lẽ dĩ-nhiên là người Ấn-Độ, cả hai tôn-giáo, Bà-La-Môn và Hồi-giáo đều thích dê v́ con dê trung-lập không bị kiêng-cử như Bà-La-Môn cử ḅ, Hồi-giáo cử heo.  Trung-lập khổ thân thật, bị cả hai phe đồng ḷng thịt ta ....

Nhưng người Pháp tiêu-thụ sữa tươi dê rất mạnh.  Người da trắng họ cần ăn sữa tươi như ta cần ăn nước mắm chớ không vừa, mà ḅ sữa Việt-Nam, không có ai nuôi, sữa ḅ tươi hiếm-hoi lại không được bảo-đảm về mặt vệ-sinh, nên họ chỉ uống sữa dê thôi.

Sữa dê thuở ấy rất là sạch-sẽ v́ sáng ra người Ấn-Độ họ dẫn cả bầy dê hai ba mươi con, đến mỗi nhà người Pháp, rồi nặn sữa ngay nơi sân nhà, trước mặt người tiêu-thụ, trong ly của người tiêu-thụ.

Không thể dùng thùng dơ đựng sữa được, không thể pha thứ ǵ khác được như sữa tươi bán ở các tiệm cà-phê ngày nay.

Đường phố vắng teo, hai ba mươi con dê bị lùa đi trên đó, không có cột dây, vẫn không làm ứ-đọng sự lưu-thông và ngoài sau hai ba mươi con dê, c̣n hai ba mươi thằng “con-con” chạy theo để giải-trí.

Sáng nào Sàig̣n cũng đông lối năm bảy công-voa dê và trẻ con như thế.  Mỗi người chăn nuôi được độc-quyền một khu.

Cho đến năm 1937, đường Cao-Thắng mới được mở.  Chùa Tam-Tông-Miếu, cất trong rừng Bàn Cờ, rất hài ḷng ḷi ra mặt đại-lộ, nhưng bọn chăn dê không phải họ Tô-Vơ lại rất khổ ḷng, bởi đường mở ra th́ th́ thiên-hạ áp đến cất nhà, c̣n đất đâu lấy cỏ cho dê ăn?

Họ dời kỹ-nghệ sữa tươi lên vùng Ông Tạ.  Nhưng từ trên ấy dẫn dê về Sàig̣n, thật là xa-xôi.

C̣n một chuyện ngộ-nghĩnh về dê nữa.  Một chủ sạp vải ở chợ Bến-Thành kể cho tôi nghe rằng những ngày cuối năm 1945, dân Sàig̣n đă tiêu-cực đề-kháng, bỏ đi hết.  Những người trở về thành đầu tiên là những Anh Bảy nuôi dê nầy.Nhưng họ không trở về khu Ông Tạ đâu.  Về đó, họ bán sữa dê cho ai v́ dân quân cấm họ ra trung-tâm thành-phố?

Họ trở về ngay trung-tâm.

Đại-lộ Lê-Lợi, năm ấy c̣n là đại-lộ Bô-Na, biến thành một chuồng dê khổng-lồ, nhưng ông Đô-trưởng Pháp chỉ mừng chớ không cho cảnh-sát đuổi họ, v́ Sàig̣n đang thiếu thực-phẩm.

Nhưng chuyện ấy chỉ cũ có hăm hai năm mà thôi, các chú các cô hai mươi sẽ cho là chuyện tiền-sử, nhưng các cụ râu dài sẽ cho là mới quá, không đáng kể ra.  Phải xưa ít lắm là 60 năm, các cụ mới nhận là có giá-trị.

Xin hẹn kỳ sau kể một chuyện xưa hai ngh́n năm, và được hâm cho nóng lại hồi trên 30 năm trước.