Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam

B́nh-nguyên Lộc

 

 Di cư vào Nam được mấy năm th́ Thanh Nam cũng đành phải để cho ḿnh rơi vào cái “bể trầm luân” của chính tôi. Cái bể trầm luân ấy không có nước mắt. Mồ hôi được thay cho lệ. Tôi muốn ám chỉ đến việc viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày.

Nếu không có đơn đặt hàng th́ chắc chúng tôi chẳng bao giờ nhào vô ngành đó, nó giống giống như làm công chức phần nào, kẻ hành nghề không c̣n tự do định đoạt về thời dụng biểu của ḿnh nữa. Sống thường th́ là có thể lười bốn năm hôm liên tiếp, chẳng cần viết chữ nào hết. Nhưng báo hằng ngày đâu có để yên cho ta tha hồ mà lười. Khổ một cái là họ không để yên, nhưng ta lại cứ lười và đến phút chót, thường th́ ta phải ṃ lại ṭa báo để viết, tệ hơn nữa, phải chun vào nhà in để viết, nơi đó không có bàn, thiếu ánh sáng, thiếu không khí, giữa mùa đông vẫn nghe nóng bức vô cùng. Đổ mồ hôi là tại vậy. C̣n nhớ anh Hoàng Anh Tuấn, mỗi lần phải chun vào nhà in của một tờ hằng ngày ở Sàig̣n, anh ấy phải cởi trần ra, mặc quần đùi cẩn thận rồi mới dám vào. Vào xong, anh ấy ngồi xổm như các chị bán cá, v́ ghế ở đó tởm quá, anh không đủ can đảm để ngồi theo cách b́nh thường. Anh nầy kén ghế lắm, nếu phải ngồi ở hiệu giải khát không mấy sang trọng, anh ấy cũng ngồi xổm như thường, bất kể thiên hạ, chẳng hạn như ở mấy cái bàn ngoài của hiệu giải khát Kim Sơn, đại lộ Lê Lợi, loại bàn mà Pháp gọi là Table de terrasse.

Nhà in Sàig̣n là nơi làm việc phản luật lao động nhứt thế giới, điều đó th́ ai cũng biết, nhưng sao các tay viết lách lại chen vào đó để làm ǵ...? Ṭa soạn của một tờ hàng ngày nghèo nhứt, vẫn không thiếu bàn. Ấy, người ở ngoài nghề không làm sao mà biết được chuyện bê bối của các tay viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, mà kẻ nầy là một. Phải chun vào nhà in, v́ thợ sắp chữ họ gào họ thét, họ đ̣i bài, ta vào đó, xé giấy ra từng mảnh nhỏ, viết được ba bốn gịng chữ th́ nộp cho một anh thợ để anh xếp chữ ngay, kẻo không kịp in. Ta lại viết ba bốn gịng nữa giao cho anh thợ thứ nh́, nếu anh hứ nhứt khi năy, làm chưa xong công việc. Chun vào nhà in để được gần thợ, hầu nộp bài cho nhanh ấy mà! Dĩ nhiên là bài không bao giờ qua tay các thư kư ṭa soạn, mà các ông ấy cũng mong khỏi phải đọc bài, v́ các ông chỉ có mấy mươi phút mà phải đọc hết năm tiểu thuyết, th́ quá đau đầu.

Cái chuyện nộp bài từng gịng, vào phút chót tuy ít xảy ra, nhưng vẫn có xảy ra cho bất kỳ tay viết tiểu thuyết nào viết giúp cho nhựt báo. Thường th́ các tay nầy viết ở nhà. Nhưng đừng tưởng là viết ở nhà là ít vất vả hơn. Như thế nầy: sáng ra, ta mang truyện đến nộp cho nhà báo. Xong rồi ta đi ăn sáng, và ta rất có thể gặp bạn. Đấu láo với nhau độ hai tiếng đồng hồ, về tới nhà là đă mười giờ đúng. Một người bà con ở tỉnh lên chơi. Sáu tháng họ mới đến một lần th́ ta không thể tiếp họ lơ là được. Ta tiếp khách thân suốt năm tiếng đồng hồ, bỏ buổi nghỉ trưa. Họ ra về xong th́ ta buồn ngủ v́ mệt. Ngủ dậy là đă chiều, và gần tới bữa ăn. Ăn cơm xong là đă tối. Có ai đó nhắc ta rằng đêm nay sẽ chiếu lần đầu phim Notre Dame de Paris, mà báo chí ngoại quốc khen là hay lắm. Thế là ta đi xi nê, xuất tối. Về đến nhà là 11 giờ đêm. Đă buồn ngủ rồi, thôi để khuya thức dậy sẽ viết đoạn tiểu thuyết phải nộp vào lúc bảy giờ sáng hôm sau.

Ta để kim đồng hồ cho nó reo hồi bốn giờ sáng. Đồng hồ đă làm tṛn nhiệm vụ c̣n ta th́ không, v́ vào lúc bốn giờ đó, ta c̣n cần ngủ thêm, nên ta cứ mặc kệ cho đồng hồ kêu gọi. Chính v́ thế mà hồi tám giờ sáng, ta mới phải viết trong các ḷ bát quái là các nhà in Sàig̣n. Phần lớn các kỳ bài của tiểu thuyết Đ̣ Dọc, tôi đều đă viết như vậy, nhưng cũng không làm tṛn nhiệm vụ. Tôi viết ít hơn khối lượng chữ phải nộp mỗi ngày, và để cho đầy cái ô mà nhà báo để dành cho tiểu thuyết của tôi, tôi đă hối lộ cho thợ nhà in, nhờ họ cứ cho xuống ḍng  măi. Hễ tôi chấm câu, là họ phải xuống ḍng. Về sau, khi tiểu thuyết nầy in thành sách tôi đă quên mất mưu trá cũ, cứ đưa báo cắt cho họ, không có bớt những lằn xuống ḍng lạm phát nên nhiều người đọc sách thường hỏi: “Quái sao cái anh tác giả nầy mắc chứng ǵ mà một trang sách, cho xuống ḍng đến tám lần?”

Thanh Nam tưởng chỉ có ḿnh anh là gặp nạn đó, anh tâm sự về sự phiền phức đă xảy ra cho anh. Tôi cho anh biết rằng tôi cũng đă lâm vào cảnh đó trước anh nữa kia. Anh hỏi “Làm sao để thoát ?”

Những ǵ mà tôi đă đáp với Thanh Nam, nhớ đâu tôi đă nói ra một lần nào, trong báo hàng tuần nào đó ở Sàig̣n, tôi không c̣n nhớ nữa, không nhớ tên báo, nhưng nhớ thật rơ những ǵ tôi đă viết. Tôi nói với Thanh Nam nlư sau: “Tôi đă được quen biết với Nhất Linh. Tôi đă than với anh ấy là tôi t́m hứng khó khăn quá. Nhất Linh đáp rằng t́m hứng là lối làm việc không tốt. Phải noi gương Thạch Lam mới được, là mỗi ngày cứ nỗ lực viết một số trang nhứt định nào đó. Rồi th́ nó sẽ quen đi, là sẽ làm việc được dễ dàng như thường mà chẳng cần hứng bao giờ…”

-  Và anh đă nghe theo lời Nhất Linh ?

-  Ừ.

-  Kết quả ra sao ?

-  Ban đầu khổ vô cùng, nhưng cũng đă gần đắc đạo rồi.

-  Thật hay không nè ?

- Bảo đảm sẽ có kết quả.

-  Tôi se thử xem sao.

Tôi không nói đến vấn đề đó nữa. Thanh Nam cũng thế. Hai năm sau, chính Thanh Nam trở lại vấn đề. Anh nói: “Tôi bây giờ khác trước, tôi sợ viết tiểu thuyết cho báo hằng tuần, báo hằng kỳ, hơn là viết cho báo hằng ngày”.

- Anh hết sợ báo hằng ngày th́ tôi hiểu. Chắc anh đă áp dụng phương pháp Thạch Lam chớ ǵ ?

-  Ừ, như anh đă gợi ư.

-  Nhưng sao lạ́ sợ báo định kỳ ?

-  Là tại ta quên kỳ hạn và quên nộp bài. C̣n với báo hằng ngày th́ v́ phải nộp mỗi hôm, ta không thể quên được.

Cả hai chúng lôi đều cười khà v́ cả hai đều lâm vào cảnh quên nộp bài cho các báo định kỳ, không phải v́ quá bận với báo hằng ngày mà v́ quên thật sự.

*

*        *

Một hỏm Thanh Nam hỏi tôi :

-  Thỉnh thoảng tạp chí Bách Khoa tiên liệu trong một câu ám chỉ rằng văn tài anh sẽ xuống thấp, chỉ v́ quen viết vội cho báo hằng ngày, anh nghĩ ra sao về ư kiến đó ?

-  Anh có nghĩ như Bách Khoa hay không nè ? Nếu có th́ tôi mới đáp, bằng không th́ đáp làm ǵ. Nếu anh khỏng nghĩ như Bách Khoa, th́ tức là anh nghĩ như tôi, tôi đâu có cần phải nói thêm ǵ.

- Tôi không bao giờ chú ư đến những điều Bách Khoa viết. Nhưng nghe tạp chí ấy nói, tôi cũng đâm lo cho anh, và cho cả tôi nữa.

- Tôi thấy là viết cho báo hằng ngày, không có hại ǵ hết. Ta đă nghe Nhất Linh, theo phương pháp Thạch Lam, tức viết mỗi ngày một số trang nhất định, vậy th́ có giúp cho hằng ngày hay không, ta vẫn phải viết mỗi ngày cái khối lượng chữ đó mà, có phải vậy không nè ?

-  Ừ. Và thế th́ báo hằng ngày đâu có làm hai ta được ở điểm nào. Vậy tôi an ḷng tiếp tục viết cho háo hằng ngày.

 

*

*       *

Thanh Nan thường phàn nàn cái sở nào đó mà làm thẻ kiểm tra cho các công dân đă thành niên. Anh bảo rằng ở cái khoản nghề nghiệp, họ ghi anh là quân nhân, báo hại anh chẳng dám đi chơi đâu xa hết, thí dụ đi Đà lạt, v́ sợ cộng sản xét xe dọc đường, thấy anh quân nhân, họ sẽ mần thịt anh. Nhưng nếu không có cái thẻ kiểm tra báo đời ấy, chắc Thanh Nam cũng chẳng đi chơi đâu xa được. Viết tiểu thuyết cho báo hằng ngày rất giống người tù, phải có mặt luôn luôn tại cái thành phố mà báo hằng ngày đặt trụ sở. Đi Đà Lạt chơi năm bảy hôm th́ trong khoảng thời gian vắng mặt, ai viết thay cho ta? Khổ lắm, nhà có tang, vẫn phải nộp bài như thường. Đây là kinh nghiêm bản thân. Nếu ta không nộp hài trong mấy hôm nhà ta có tang khó, nhà báo cũng không làm ǵ ta được nhưng ta mất tín nhiệm đối với họ, và họ sẽ không mời ta viết nữa. Sau khi cuốn tiểu thuyết ấy được đăng hết. Theo nguyên tắc, ta phải viết xong rồi mới bán cho họ th́ ta không thể viện là quan hôn tang tế hay đau ốm để mà khỏi nộp bài. Nếu ta phải vào bịnh viện đi nữa, th́ vợ con ta cũng phải mang bài đến cho nhà báo, v́ nhà báo đâu có nh́n nhận t́nh trạng ta chưa viết ǵ hết lại dám nhận lời, c̣n để lấy tiền ứng trước, rồi mỗi hôm mỗi rặn từng bài.

*

*       *

Dầu sao, Thanh Nam cũng đă là một tiểu thuyết gia, chứ không phải chỉ là nhà văn mà thôi. Nhiều nhà văn lỗi lạc, nhưng không viết được tiểu thuyết bao giờ, nhứt là viết cho báo hằng ngày. Những người viết không được, không phải là những người dở đâu, tiểu thuyết là một văn thể, y hệt như phê b́nh là một văn thể. Không làm được văn thể nào đó, không có nghĩa là dở. Nhưng làm được th́ vẫn tốt hơn là làm không được. Và Thanh Nam đă làm được, mà làm từng ngày cho báo hằng ngày nữa, chớ không phải làm xong rồi mới bán cho báo hằng ngày để họ in từng kỳ. Công việc nầy, ai chưa làm, cứ tưởng dể, chớ nó rất là khó. Các nhà phê b́nh văn học sẽ nói: Tác phầm có giá trị hay không, là do chính phẩm chất của nó, chớ nào phải do t́nh trạng khó tạo nó ra hay dễ tạo nó ra. Đành là như thế, không căi vào đâu được với nhà phê b́nh, nhưng tôi cứ nói ra, không phải để đề cao văn phẩm của Thanh Nam, mà để chỉ nói rằng Thanh Nam đă làm được một việc khó làm. Làm được một việc khó làm, cũng đă là một đức tính lớn, cần được nói tới chớ. C̣n cái việc khó làm ấy, nó có đẹp hay không th́ chỉ có các nhà phê b́nh mới đủ thẩm quyền khen chê. Đây là một người thường nói về một nhà văn, và ư kiến của kẻ nói ra, chỉ là ư kiến của người thường.

Và những người thường có lẽ sẽ hỏi: “Tại sao các anh lại để cho lọt vào cái mà các anh gọi là “Bể trầm luân” ?” Chẳng biết người khác th́ sao, chớ Thanh Nam với tôi là v́ sinh kế. Thuở đó, lương của công chức bực trung mỗi tháng là bốn ngh́n. Nhưng viết tiểu thuyết hằng ngày, mỗi tháng được bảy ngh́n. Viết được hai cái mỗi ngày kiếm được 14 ngh́n. Có người chủ trương rằng làm văn nghệ nên bất vụ lợi. Đó cũng là một quan niệm hay. Nhưng người ta trả tiền, mà vô điều kiện, không có đ̣i hỏi ḿnh cái ǵ hơn là có bài mỗi hôm, chẳng lẽ ḿnh lại chê tiền ? Nhận tiền nhuận bút nào có phản đạo đức ǵ đâu chớ. Làm nghề khác chưa chắc tự do hơn.

Thế nên khi tôi hỏi đùa Thanh Nam có bị mặc cảm ǵ chăng trước dư luận của các tạp chí về văn chương của báo hằng ngày. Thanh Nam thành thật đáp :

- Sao lại mặc cảm ? Chắc anh không có, th́ tôi cũng chẳng có.

 

*

*       *

Nhưng Thanh Nam vẫn cứ thấy khổ, cái nỗi khổ nó cũng đă hành hạ tôi, như đă hành hạ Thanh Nam. Khi ta quen viết tiểu thuyết cho báo hằng ngày rồi, th́ nếu chẳng có báo nào đặt cho ta viết, th́ ta chẳng c̣n viết được ǵ nữa cả. Không anh nào c̣n đủ can đảm để viết một tiểu thuyết mà chưa chắc sẽ có ai mua, cho dầu đề tài của tiểu thuyết ấy được ta thương mến nhiều lắm. Bấy giờ th́ nhà văn đă biến thành con trâu kéo cày, và y lại thích bị biến như vậy. Không có chiếc roi cày quất cho, y chẳng viết ǵ được hết. Nghe đâu như là Honoré de Balzac, về sau cũng đă biến thành trâu cày như thế, và lắm khi nhà báo phải cho người đi lùng bắt ông ta về nhốt lại, ông ta mới viết được. Cả hai, Thanh Nam và tôi cũng đều không c̣n đủ can đảm hạ bút, nếu không bị thúc hối. Cái anh quân nhân đời nhà Đường cứ nằm trên cát khi Tỳ-Bà “mă thượng thôi”, nhưng chúng tôi th́ lại cần Tỳ-Bà thôi thúc, có bị thôi thúc mới làm việc được. Đó là một cái bịnh rất kỳ lạ, do thói quen của báo hằng ngày tạo ra. Bịnh nầy chắc là khó trị v́ không có vi trùng nào hết, th́ thuốc trụ sinh mạnh nhứt cũng đành bó tay.

*

*       *

Ở Sàigón có hai ông chủ báo hằng ngày, đó là anh Huỳnh Thành Vị và anh Phạm-văn-Tươi. Hai anh nầy cứ trách tôi sao không đưa cho hai anh vài bộ tiểu thuyết để hai anh được chọn lựa. Có lẽ Thanh Nam cũng đă bị hai anh ấy trách móc như thế.

Thế nên Thanh Nam và tôi chẳng bao giờ được dịp hợp tác với Huỳnh Thành Vị và Phạm văn Tươi. Đó là hai ông chủ báo không biết tẩy của bọn tôi, cứ ngỡ chúng tôi có sẵn lu bù tiểu thuyết trong hộc tủ, v́ họ thấy báo nào mua truyện là chúng tôi có ngay, chưa bao giờ từ chối hợp tác với báo nào hết. Sự thật th́ tuy có sẵn đề tài, nhưng chúng tôi chẳng có bao giờ viết ra hết, đợi có c̣m-măng mới cặm cụi viết, rồi sau đó, bị roi cày quất măi, mới tiếp tục được hoài hoài. Đó là một thói xấu, nhưng đă mắc bịnh mà không thuốc chữa, th́ đành phải chịu vậy.

Anh Lê Ngộ Châu, chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa, mười hôm hoặc nửa tháng mới cho báo của anh ra một kỳ, lại c̣n nhát hơn các ông chủ báo hằng ngày nữa. Anh ấy nói: “Các anh viết cái kiểu đó, ngộ nhỡ nửa chừng đường, các anh bí, th́ tôi sẽ phân trần ra sao với độc giả”. Nhưng kinh nghiệm đă cho thấy là chúng tôi chẳng có bao giờ bí hết. Thanh Nam lại c̣n dặn tôi: “Nếu rủi ro anh bí, cứ cho tôi hay, tôi sẽ mách nước thoát bí dễ dàng.” Chẳng rơ mánh lới của Thanh Nam ra sao, v́ tôi chưa có dịp vấn kế người bạn đồng nghiệp đó.

 

Văn Học. Số 5, tháng 6-1986