VẮNG BÓNG BIA ĐÁ TH̀ HỎI BIA MIỆNG

B́nh-nguyên Lộc

     

Mặc dầu không “vọng cổ”, không “hoài cổ” chắc bạn cũng thấy rằng cái ǵ xưa là nên thơ. Một quyển sách thuở bé hay gợi nhớ nhiều kỷ niệm êm đềm, một thếp đèn xưa thường tiết ra mùi thơ sầu của thế hệ vừa tàn.

Nếu bạn thành thật, không sợ bị xem là thoái bộ th́ bạn nhận như vậy.

Rồi bạn t́m những phiến đá, những chùa đổ trong đất Sàig̣n để hỏi thăm coi các thứ ấy có kể lể chuyện xưa tích cũ nào chăng.

Than ôi, đá và chùa Sàig̣n c̣n mới ràng ràng, chỉ vừa phủ một lớp rêu mỏng mà thôi.

Tuy nhiên, ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ mặc dầu bia đá ngậm câm.

- Bia miệng ơi, mi có biết Sàig̣n cũ của chúng ta chăng ?

- Thưa có, tôi biết nhiều lắm.

- Kể lại nghe nào !

- Nầy nghe :

Bắp non mà nướng lửa ḷ

Đố ai ve được con đ̣ Thủ Thiêm.

Ngày xưa, trên bờ sống Bến Nghé, chắc có một cây da, tàn lá sum-sê. Trong bóng mát cây da ấy, nhiều bộ hành đục nắng để chờ đợi một chuyến đ̣ ngang.

Cô lái đ̣ ắt hẳn là đẹp lắm, và nhứt là đứng đắn lắm, nên cả vạn trai Sàig̣n  mới thách đố nhau cái kỳ công oái oăm ấy.

Cô lái ơi, nay cô đă thành bà lăo nào hay đă được vùi nông một nấm ?

Người Sàig̣n nh́n chiếc đ̣ máy tại bến Thủ Thiêm, nghe tiếng động cơ nổ điếc tai, làm sao khỏi ngậm ngùi nhớ lại một cánh buồm xa, một lưng ong gái Sở đang đẩy nhẹ mái chèo ?

- C̣n ǵ nữa bia miệng ơi ?

- Nầy nghe :

Bao giờ cầu quay nọ hết quay,

Th́ qua với bậu mới đứt dây can thường.

Trơi ơi là thương ! Yêu nhau không có non có biển để chỉ mà thề, nên đành lấy chiếc cầu sắt kiên cố nối liền đường Vơ-Duy-Nguy (G. Guynemer) và đường Tŕnh Minh Thế (J. Eudel) để khắc lời nguyền !

Chàng và nàng ơi ! Chiếc cầu ấy quả ngày nay đă thôi quay rồi. Nếu bắt chẹt nhau từ lời nói th́ Chàng đă mắc lời thề, đă phụ Nàng rồi đó. Nhưng sự thật th́ mặc dầu đôi bạn đă ra tro, t́nh xưa của đôi bạn luôn luôn bền vững. Chúng tôi yêu các bạn nên tiếp thay cho bạn và  tiếp tục thề nguyền. Các bạn có dè đâu chiếc cầu sắt có vẻ thiên niên ấy lại thôi quay ! Nhưng chắc chắn là các bạn đă dè rằng các bạn yêu nhau măi măi cho đến lúc xuống mồ.

- Hết rồi phải không bia miệng ?

- Làm sao hết được. Đây nầy :

Ba H́nh nay đă đổi dời.

Bớ nầy bạn ơi, bấy lâu gắn chặt, ră rời là đây.

Bức tượng đồng tượng h́nh ba vơ - nhơn Pháp dưới thời chinh phục ngày xưa đặt ở bến Bạch Đằng. Nhưng sau lại dời lên dinh “Chánh soái” tức là dinh Độc Lập bây giờ.

Chính sau cái dời lần thứ nhứt đó mà Chàng và nàng đă ră-rời nhau.

Ba H́nh bằng đồng nặng thế mà c̣n dời, huống chi là Chàng với Nàng và ngày nay Ba H́nh đă dời đi nữa rồi, nên biết bao Chàng và Nàng khác đă ră - rời keo sơn.

Sàig̣n thay đổi như chong chóng. Trong cái sự quay cuồng ấy, ḷng con người cũng ngược xuôi túi bụi v́ họ thấy không cần thủy chung như ở nhà quê nữa. Ơ đây thuyền dời, mà bến cũng dời tuốt.

- Bia miệng ơi, sao Sàig̣n lại hết nên thơ và đâm ra phản bội, nên thơ trở lại coi đi nào.

- Có đủ mặt mới hay. Nầy Sàig̣n điếm đàng đây :

Gái đàng mới xem tường không mới

Trai Bến Thành xem lại chẳng thành

Ngày ngày qua lại em, anh,

Có xu có lúi mới thành ngỡi nhân.

Th́ ra uy thế của đồng tiền cũng đă khá rơ rệt ngày xưa kia rồi.

Truyền thống xu, lúi, ấy được Sàig̣n ngày nay thừa tự và nâng lên đến độ tuyệt vời.

- Thôi bia miệng ạ ! xấu che tốt khoe mà, vạch áo cho người xem lưng làm chi.

- Hăy khoan ! Nghe thêm một giọng chướng tai của Sàig̣n nữa cái đă :

Bạc-lê  [1] vẽ sứa, em giận đứa măng-tơ  [2]

Thằng ǵ mà nghi ngại bá vơ,

Sài thành em dạo cảnh nó nghi ngờ em bán duyên.

Đó là lời của một me Tây Sàig̣n. Cũng nên thơ đó chớ, nhưng mà đó là thơ Tây lai nên nghe ng̣ng ngọng cái vang bóng một thời Ba Đá, Ba Lô.

Thỉnh thoảng bia miệng tôi xin pha tṛ để đổi không khí, chớ nên thơ hoài th́ buồn chết.

Nhưng bạn muốn nên thơ th́ đây:

Chợ cũ nay đă tan tành,

Sàig̣n em ở lại, Bắc thành anh dời chơn.

Chợ Sàig̣n từ sau lưng kho bạc dời ra trước bồn-binh là kéo theo sụp đổ của cả chục gia đ́nh buôn bán nho nhỏ. Có lẽ v́ đồng tiền tửng sập mới chăng ? Hay là tranh thương không lại Ba Tàu ?

Chàng từ Bắc vào, quyết giành với Trung Hoa nhưng Trung hoa lấn dữ quá, phải đành “Bắc thành dời chơn” vậy.

Nên nhớ ngày xưa người Nam ta ít buôn bán lắm. Chỉ có đồng bào miền Bắc là tranh với cắc-chú thôi.

Câu hát nực mùi kinh tế nầy chứng tỏ một thời miền Nam bị khách lũng đoạn trong cuộc làm ăn.

- Đă bớt dị hợm me Tây rồi đó, nhưng quả chưa nên thơ. Bia miệng à !

- Vâng. Vui thêm một câu nữa đă :

Mười giờ tàu lại Bến Thành

Xúp-lê vội thổi, bộ hành xôn xao.

- Tàu sao lại vào chợ Bến Thành được hở Bia miệng ?

- Đă bảo chợ Cũ ngày xưa nằm sau kho bạc mà. Có một con Kinh từ dưới sông lên tới chợ.

Cảnh buôn bán đă khá sầm uất rồi: Nên chi Bia miệng chỉ nên thơ được vài câu nữa thôi, rồi đành phải ngậm miệng đến ngày tận thế v́ Sàig̣n bắt đầu náo nhiệt rồi, Bia miệng không ḥ hát nữa được.

Ngày sau Bia miệng chỉ ca vọng cổ, hoặc âm nhạc cải cách thôi. Thời ca dao đă chết rồi.

Trước khi hấp hối Bia miệng xin cho thật là thẩm thía để từ giả cơi đời :

Rạp hát bóng chào rào chộn rộn,

Sở đồ-h́nh ngồi đứng chỉnh tề.

Thăm em một chút anh về,

Chơi khuya lính bắt khó bề phân bua.

Lại yêu nhau ! Nhưng cuộc t́nh duyên dưới gốc me nầy bị cảnh sát bố gắt, chàng vội về, kẻo khó mà phân bua về cái la cà của ḿnh.

Thượng thơ bán giấy,

Thủ-Ngử treo cờ,

Nào ai núp bụi núp bờ.

Mủ-di đánh đạo

Bây giờ bỏ em.

Thượng thơ là phủ Thống đốc Nam kỳ ngày xưa. Bán giấy là bán tín chỉ. Nhà học giả Thuần-Phong cho rằng Mủ-di là Musique. Nhưng thật ra Bia miệng không hiểu rơ câu hát mà Bia miệng nghê-nga mỗi ngày nầy. Dầu sao nghe ra, sao mà ngậm năng nuốt cay thế nầy.

Đàng Ô – Ma hai đứa ta nói chuyện.

Lúc giă từ c̣n quyến nhau hoài,

Về nhà anh cậy môi mai,

Mẹ cha em khó hỏi hoài không xong.

Đàng Ô-Ma có lẽ là cuối đường Hồng Thập Tự. Eo ôi ! Cũng như bất kỳ ở đâu, thời nào, Chàng và Nàng cũng phải chịu cảnh éo le v́ cha mẹ cho đến cả trong cái xó tứ-chiếng hỗn độn nầy mà phong tục được khen là tương đối dễ dăi hơn ở đâu cả.

T́nh duyên ! Ôi t́nh duyên  Sàig̣n bà-lăng-nhăng lắm. Đây là nơi anh hùng hội, nơi tứ-chiếng-quốc-tế mà. Cho nên :

Chợ Bến Thành mới,

Kẻ lui người tới,

Xem tứ diện rất xinh,

Thấy em tốt dạng tốt h́nh,

Chẳng hay em có chốn duơn [3] t́nh hay chưa ?

- Hỏi em về việc duơn t́nh,

Em đà có chốn, gởi ḿnh cho Thanh [4]

- Căn duơn đâu mà thấu đến bên Tàu,

Họa chăng em thấy chú tửng [5] giàu em ham.

Và đây :

Bước lên  xe kiếng đi viếng mả chồng,

Cỏ non chưa mọc, trong ḷng thọ thai.

Xe kiếng là loại xe bốn bánh, do hai ngựa kéo, khá xinh v́ mui gỗ có cửa kiếng bốn bề như xe ô-tô loại Limousine.

Xe đó rất thạnh hành hồi đầu thế kỷ nầy, ở Sàig̣n.

Và người đàn bà Sàig̣n ở đầu thế kỷ nầy đă xem nhẹ “tiết hạnh khả phong” rồi đó. Đời sống đô thị dĩ nhiên đưa đến tâm trạng ấy, không đổ thừa cho chiến tranh được v́ thuở ấy làm ǵ có chiến tranh, phim khiêu dâm, tác phẩm hiện sinh ?

Mà ca dao không nói láo bao giờ hết.

-     Cho một câu thật nên thơ đi, Bia Miệng ơi !

-     Vâng đây là câu chót, nên thơ như một buổi chiều, và ngậm ngùi như một nỗi nhớ xa xôi:

Cây da Chợ Dũi:

Nay đà trụi lũi

Trốc gốc mất tàn.

T́nh xưa c̣n đó.

Ngỡ ngàng phồn hoa.

T́nh đây, không riêng ǵ t́nh yêu, mà là t́nh mến thương cảnh vật Sàig̣n cũ.

T́nh xưa ấy vẫn c̣n nguyên vẹn nơi ḷng Bia miệng nhưng cảnh phồn-hoa mới hiện ra đă làm cho Bia miệng ngỡ ngàng lạc hướng.

Thôi, vĩnh biệt nhé ! Loài người ham vọng cổ lắm rồi, Bia miệng tôi không hát theo xưa nữa. Chỉ van xin.

Mai sau dù có thế nào,

Đốt ḷ hương ấy, đọc ca dao nầy.

để mà nhớ lại Sàig̣n cũ của chúng ta. [6]

 

ĐÀI PHÁT THANH, 1962

 

 

 

 



[1] Parler: nói

[2] menter: nói láo

[3] duyên.

[4] người Tàu đời Măn Thanh,

[5] người Tàu c̣n trẻ.

[6] Tất cả những câu ca dao trong bài đều trích ở quyển “Thổ ngơi Đồng Nai” của B́nh-nguyên Lộc.