HUI NHỊ TỲ 1

B́nh-nguyên Lộc

     

Nếu bạn không tin dị đoan và không sợ rông trong tháng đầu năm th́ tôi xin bạn… hui nhị tỳ với tôi chơi. Hui nhị tỳ là một động từ kinh khủng, kinh khủng cho đến nỗi người ta không dám nói tiếng Việt mà lại dùng tiếng Tàu để cho cái nghĩa bí ẩn của ngôn ngữ ngoại quốc giúp cho đỡ sợ.

Người chết bị bỏ quên ! Cho đến cả người thân yêu của họ cũng bỏ quên họ. Bạn sẽ chết. Như thế bạn có tủi trước cho số kiếp bạn hay không ? Nếu có th́ nên đi thăm họ vậy.

Bước lên xe kiếng (1) đi viếng mă chồng,

Cỏ non chưa mọc trong ḷng thọ thai.

Hai câu ca dao Sàig̣n trên đây cho ta thấy cả cái chua xót của một người bị bắt an trí ở một xó nào đó để họ rảnh nợ mà trở vô guồng sống quay cuồng của họ.

Hui nhị tỳ buồn lắm. Để cho bạn khỏi thấy cảnh :

Sè sè nấm đất bên đàng…

mà mủi ḷng rồi vạch da cây mà đề thơ cho ma nó hiện lên lôi thôi lắm,  tôi xin đưa bạn đến một nhị tỳ vui.

Đó là nhị tỳ của các Hội đồng hương của các tỉnh miền Nam.

Đường đi Bà Quẹo. Khỏi cột dây thép gió một đổi, bạn quẹo qua tay mặt để vào chùa Ông Tạ.

Qua khỏi chùa, cảnh như cảnh quê miền Đông với những con đường ṃn núp bóng bờ tre, với các cây rơm phơi giữa đám gốc rạ. Rồi th́ tới nghĩa địa.

Bạn ở Sađéc trôi nổi lên đây làm ăn mà rủi có mạng hệ nào, bạn đừng lo bỏ thân xứ người. Trong nghĩa địa, bạn sẽ gặp đủ mặt người đồng hương giữa một ô riêng dành cho tỉnh Sađéc.

Những đêm mưa dầm, ma ở đây chắc không lạnh bao nhiêu, v́ quanh họ đông đúc những gương mặt thân yêu, tha hồ tṛ chuyện cho ấm ḷng.

Tỉnh nầy muốn qua tỉnh kia thăm bạn, chỉ phải bước qua một hàng rào. Gần hai mươi tỉnh sát cánh nhau để dựng lên lên một miền Nam trong cơi âm.

Người sống hay đ̣i thống nhất nhưng họ lại bắt người chết phân ly: Bắc Việt nghĩa trang, Trung Việt nghĩa trang, và Nam Việt nghĩa trang nầy là ba thế giới riêng biệt không có đường xe lửa nối liền.

Riêng dân chết của Nam Việt họ tự trị mỗi tỉnh một ô riêng ngăn ranh giới bằng giây kẽm gai, ư chừng để ngừa xâm lăng.

 


(1) Một thứ xe bốn bánh do hai ngựa kéo, rất thạnh hành ở Sàig̣n ngày xưa.

 

Có một bà kia người Cần Thơ mà lấy chồng là dân Biên Ḥa. Khi bà măn phần, gia đ́nh bà bối rối hết sức không biết đưa linh cửu của bà về xứ hay về quê chồng, mặc dầu hai nơi đó chỉ cách nhau có mấy mươi bước.

Rốt cuộc người ta kết luận : Cần Thơ và Biên Ḥa xa nhau không tới một cắc tiền xe th́ ai nằm xứ nấy.

Ngày sau hai vợ chồng ông nầy thăm nhau chắc tiện lắm.

¯

Về tới nửa đường, bạn quẹo qua tay trái, theo đường Hai Mươi (Phan Thanh Giản) để vô vườn Bà Lớn !

Đây là nhị tỳ tư gia, nhưng đồ sộ không kém một nhị tỳ công cộng.

Trước chiến tranh, từ đường của họ Đỗ Hữu nầy nằm riêng biệt một nơi hẻo lánh, đứng trước cổng có thể ngắm mặt trời lặn trên cánh đồng hoang bên kia đường Hai Mươi.

Nghĩa địa ngày trước được một lũy tre dày mịt bao học lấy.

Nhưng v́ chiến tranh ở thôn quê nên người sống đă tràn đến đây đốn rụi lũy tre xanh mà cả vườn xoài bên trong cũng không c̣n một cây để che mồ.

Những con đường trải sạn trắng trong nghĩa địa đă biến thành những lối ṃn ngập đất bột và cáo ao sen ở giữa ngày xưa liễu rũ soi bóng dưới nước xanh lơ, bây giờ dùng làm hầm đổ rác.

Kẻ chết củng cố thành tŕ cẩn thận bằng dây kẽm gai nếu không, làn sóng người cứ xung phong vô măi th́ nguy mất. Tuy thế, đám đất giữa nhà mồ và những ngôi mộ chánh cũng đă bị người ta vun vồng để trồng hoa và người ta thả ḅ nghỉ mát.

Nơi đây là nơi mà các học sinh thi sĩ của trường P.Kư thời tiền chiến thường lui tới để t́m yên sĩ.

Ngày nay thơ ở đây vẫn c̣n, nhưng không phải là thơ tươi đẹp nữa, mà là những vần tuyệt vọng khóc cảnh điêu tàn.

Tôi đi ṿng quanh đó để t́m ngôi mộ của cô V.T.L. chết năm 18 tuổi. Hồi c̣n là nội trú trường P.Kư tôi đă nghịch về ngôi mả nầy khiến một số học sinh kinh hoảng và khiến cô bạn đang duy vật bỗng ngă qua duy thần [1].

Tấm mộ bia vẫn c̣n tươi nét vàng nhưng nhiều tảng xi-măng của ngôi mộ đă long ra, nằm lăn lóc trước đó.

Vô số là chó hoang chơi giỡn trước mộ của cô gái nửa chừng xuân găy cành thiên hương ấy, c̣n ngôi mộ của ông phi công vị Pháp quốc vong xu là nơi trẻ quanh xóm xé rào vào đánh đáo.

Ai ôi, có lập nghĩa địa th́ nên đoán trước sức bành trướng của thành phố trong ṿng một trăm năm để khỏi đào hào đắp lũy mà vẫn bị xâm lăng như thường.

¯

Về vụ người sống lấn người chết, cảnh rơ rệt nhứt là cảnh đất thánh của nhà thờ Cầu Kho.

Đất thánh ấy ở giữa tring tâm thành phố, bạn bước tới mà xem.

Những ngôi mộ bia bị giấu mật dưới những nếp nhà lá nhỏ như chiếc khăn mu soa, rồi trong đó, đám người kẻ dương gian người âm cảnh, ngủ chung với nhau.

Nếu có ma th́ ma ở đây rất sợ người ta, những người ĺ lợm; mả mới mả cũ ǵ họ cũng cất nhà chồng tưới lên.

Nhiều nhà mồ biến thành trại mộc và có vài ngôi mộ có rào sắt, bị người ta dùng làm chuồng heo.

Ở đây dương thịnh mà âm suy, ông lang nào có muốn bốc thuốc hiệu nghiệm th́ tôi xin mách một toa toàn vị bổ âm :

1/ Đất trống vài mẫu.

2/ Cây lá vài trăm xe.

3/ Sở phí dọn nhà vài trăm ngàn.

Mấy vị thuốc nầy uống vào th́ âm hạ ngay cho dương trở lại. Toa gia truyền nầy là toa “giải tỏa và định cư” [2]

¯

Các bạn có muốn xem một  nhị tỳ tản cư hay không ?

Các bạn cứ lên đất thánh Chà. Đất thánh ngày nay là trú xá của nhân viên Sở rác và là cái kho chứa xe của Sở rác.

Ở đây âm đă hoàn toàn suy liệt và cơi âm đă trong sáng những ngôi nhà xinh xắn và những tiếng trẻ vui tươi.

Nhưng dấu vết âm vẫn c̣n ràng ràng. Một đống đá xanh, tấm nào cũng to gần bằng bộ ván chất cạnh câu lạc bộ giữa sở đất.

Đó là mộ bia nằm, theo lối Âu Châu của những ngôi mộ bị bốc.

Tại sao gọi là đất thánh Chà ?

Thật là bí mật. Tôi đă xem kỹ những nấm mộ bia ấy. Tấm nào cũng khắc tên Tây cả, những ông Tây bà đầm đă tới đây trong thời chinh phục.

Ngày nay họ tản cư về đâu không biết, ta hui nhị tỳ để thăm họ, họ dời nhà mà không để địa chỉ lại th́ thôi vậy.

Từ đây âm dương đôi ngă, người chết ôi ! kẻ sống đă quên các người sau khi đọc bài nầy.

 

                                                                                 (NHÂN LOẠI, 1957)

 



[1]   Câu chuyện đă kể rơ trong bài “Ma Đề Thơ” in thành sách trong quyển “Tân liệu trai”.

[2]   Nghĩa địa nầy đă gợi hứng cho tác giả viết truyện Ba Con Cáo (Kư thác) và ngày nay đă bị giải tỏa để làm phố Nguyễn Cư Trinh.