MẢ CŨ BÊN ĐƯỜNG

B́nh-nguyên Lộc

 Hôm qua tôi đi thăm một chị bạn ở đường Lư Trần Quán. Cạnh nhà chị, trên lề cỏ sát con đường nhựa láng quyên, đứng sững lên một cái tháp cao vọi.

Công tŕnh kiến trúc nầy không biết có phải tên là đồ phù hay không, nhưng chắc chắn đó là mộ của một vị sư nào, cạnh một cảnh chùa cất trên mảnh đất nầy hồi thuở Tân định chưa thành ngoại ô Sàig̣n.

Ngôi mộ có vẻ đẹp của những vật điêu tàn, hay ít ra, của những vật cổ kính, mặc dầu chưa chắc nó đă xây lên được tám mươi năm.

Thành phố Sàig̣n chỉ mới cất hôm qua đây, nên chi một ngôi mộ xưa chừng nửa thế kỷ cũng được ta mừng rỡ liệt vào hạng di vật lâu đời.

Liệt những món c̣n mới ràng ràng ấy vào hạng đồ cổ để mà thương cái đô thị chưa có kỷ niệm nầy.

Những tư tưởng đóng rêu, ta muốn vứt đi cho khỏi vướng bận tinh thần. Nhưng một thềm nhà cũ, một thếp đèn xưa, càng đóng bụi thời gian bao nhiêu, càng đẹp hơn lên bấy nhiêu.

Tôi không hiểu người Do Thái làm sao thương được nước Israel. Riêng tôi t́nh quyến luyến một ngôi nhà, một làng hẻo lánh, một thành phố, một quê hương phải bắt nguồn trong một dĩ văng lâu đời mà nước mắt và nụ cười của bao thế hệ đă ràng buộc con người vào đất, vào vật, vào người.

Đất, có ở lâu, t́nh đất mới sâu.

Có người ngại t́nh đất sâu, gây hủ hóa. Họ chỉ có lư phần nào thôi.

¯

Trở về Sàig̣n mới mẻ của chúng ta.

Những chiếc đá mả vừa mới đóng rêu, những cây trồng chưa “thành đoàn cổ thụ già”, mà t́nh đất đă thấm nhuần được ḷng dân Sàig̣n nào c̣n biết nhớ xưa, nhớ cái thuở mà văn minh chưa đến hay mới đến Sàig̣n nê địa, nhớ thuở mà :

Thượng thơ bán giấy,

Thủ ngữ treo cờ.

Hoặc cái thuở mà :

Bắp non mà nướng lửa ḷ,

Đố ai ve đặng con đ̣ Thủ Thiêm.

Con đ̣ Thủ Thiêm đă nhường chỗ cho một bác thợ máy lái chiếc xà lang. Nhưng h́nh ảnh của cô lái đ̣ xưa luôn luôn rung cảm mỗi khi câu ca dao trên đây vang lên trong một khoang thuyền.

T́nh đất Sàig̣n tản mát trong người, trong vật. Nhứt là trong vài câu ca dao hiếm hoi. V́ hiếm hoi nên t́nh như không thỏa. V́ không thỏa nó mới cố lắng sâu như để t́m chính ḿnh, trong chỗ không có ǵ hết.

                                                                                 (THỜI  TRÂN, 1952)