Cái Bách-xê[1]

 

B́nh-nguyên Lộc

 

Anh Công về Sàig̣n vào có lúc mà số nhơn khẩu ở thủ-đô miền Nam nước Việt được công bố là một triệu rưỡi.

Sau những năm mướn ghế bố ngủ ở các đường hẻm, anh được một người bạn điềm chỉ sang một căn phố lá ở xóm X.

Đừng tưởng xóm X ở ngoại ô nào đó đâu. Nó ở ngay trung tâm thành-phố, núp sau lưng những dăy phố gạch sang trọng dựa đại lộ. Nơi đó là một đám đất trống, nguyên trước kia là một chỗ trũng, mùa mưa như mùa nắng quanh năm ứ nước, một thứ nước xanh như nước lá bồ ngót. Nơi đó tha hồ cho thủy thảo, cho bèo mọc, cho cá bă trầu sanh sản. Nơi đó là chỗ nương náu cuối cùng của nhái bầu, của  ễnh-ương trong thành phố.

Mấy năm trước cuộc khởi nghĩa, chủ đất xin phép địa-phương cho đổ rác lên cho đầy, rồi phủ lên đó lột lớp đất. Thế là ông chủ có một đám đất cất nhà giữa châu-thành. Ông chỉ phiền địa-phương không xẻ đường qua đó, thành ra miếng đất của ông vô dụng.

May thay cho ông chủ, lại xảy ra cuộc loạn ly. Bao nhiêu người dồn về mà không có chỗ ăn nằm. Thôi th́ cho chúng nó cất nhà lá. Cho dẽ đất, ông nói.

Nhà có ba căn, thấp cỡ cóc nhảy lên mái nhà được và không cần học vơ theo lối kiếm-hiệp, cỡ có biến th́ nhảy lên nóc nhà trốn dễ như chơi.

Cái nhà cất xa nhà khác chừng năm tấc thôi. Nhưng Công cũng mừng được ở căn b́a, bề ǵ cũng có cái khoảng không đó, đỡ bớt sự khó chịu bị kẹp giữa hai căn. Nhà lại ở ngoài b́a hàng trăm nhà lá lúp-xúp, lụp-xụp khác, cái nào cũng lùn xủn như đám dân bị bố ngồi bên đường.

Ngày đầu, Công giậm chơn lên mặt đất, nghe nó xèm-xẹp như là đất mặt vơng. Mỗi lần xe điện chạy ngang qua lối đó, ngoài xa kia, th́ ly, tách trên bàn anh rung len-ken, y như là nhà có ma nó dời chén, dời tách để phá chủ nhà.

Có khi đang đêm trời mưa ầm-ĩ, anh nghe chơng tre anh đang nằm lắc lay, giao động, toàn thể đám đất rung chuyển như cơn địa-chấn sắp đến. Đó là rác mục đang biến thành đất, gặp mưa nó dẽ xuống, lớp đất trên cũng xụp theo.

Những đêm khuya trăng lặng,  Công nghe rơ-ràng có tiếng động ở dướí đất, h́nh như không sâu cho lắm. Chuột hang chăng?

Dầu sao, anh cũng thấy sướng hơn là ở ngoại ô. Ở ngoải c̣n khổ v́ nhiều việc khác nữa. Ở đây th́ hoàn toàn an thân, nếu không có vợ chồng cái anh láng giềng ở căn giữa.

Trời sao lại xui anh Công có một anh láng giềng khó chịu như vậy.

Anh ta không biết làm ǵ ở đâu, mà cũng đi đúng giờ về đúng khắc như người làm ở sở. Nhưng đó là người không bao giờ nghỉ ngơi, trưa như tối. Hết dỡn với bạn ỏ đâu kéo về, lại căi lộn với vợ. Rồi hết hai cái đó, lại quay hát máy. Có khi cùng giỡn, cùng căi lộn, cùng hát máy một lượt.

A, cái sự hát máy nầy mới thật là một hành hạ lớn nhứt trong đời Công. Hễ cứ đúng giờ nghỉ ngơi, từ đúng ngọ đến ba giờ trưa, từ bảy giờ chiều đến nửa đêm là nó ong-óng lên như con mẹ điên, thế là thần trí Công bấn loạn, không mong nghĩ ǵ được.

Có nhiều đêm, Công mới chợp mắt được đâu vài giờ th́ bỗng giựt ḿnh thức dậy để phải hứng đầy tai những câu hát chướng chết được người.

Anh nghe con vợ nói:

-     Thôi mà, để cho xóm giềng người ta ngủ.

Anh chồng nạt giọng :

-     Thôi ǵ, hát giờ nầy êm tai, ngủ mới sướng chớ ! Vọng cổ th́ phải rỉ rả về khuya mới mùi chớ.

Thế là vọng-cổ éo éo tới sáng.

Cái thứ vách lá th́ như là không có vách ǵ hết.  Nếu ra ngoài đựng mà nằm được, th́ Công cũng sẵn ḷng đi trốn cái nạn hát máy ấy.

Mỗí lần anh nghe nó khởi sự lên dây thiều rồn-rột th́  ruột gan anh cũng lên theo. Mà lạ, sao nó hát măi như thế mà không đứt dây thiều lần nào. Công chỉ mong có bao nhiêu đó, để nghỉ lỗ tai vài bữa.

Trưa và tối, anh nằm dài, thở ra : “Thế nầy th́ đến loạn óc mất !” Quả thật, bộ thần-kinh anh bị khích động thái quá. Mỗi lần nghe nó mở máy hát là mỗi lần anh tức, rồi cứ nằm mà đợi  giờ nầy qua giờ kia, toàn thể thần-kinh anh bị căng thẳng trong chờ mong và trong khó chịu. Máy đóng lại cái sập, anh mới nghe nhẹ người, thần-trí mới giăn ra, nhưng anh đă mệt nhoài khó thể dỗ giấc ngủ được.

Một hôm, Công yêu cầu anh láng giềng ấy bớt hát, nhứt là bớt lúc gần sáng, th́ anh ta sừng sộ nói : Nội đây, không ai nói ǵ, có ḿnh anh là kiếm chuyện thôi. Đời thuở nào mà hát máy ǵ lại nghe khó chịu. Anh muốn êm tịnh sao không ở xóm nhà giàu, xóm Tây è !

Công ṣ ngay, nhưng người kia c̣n nói nữa, nói nhỏ riêng với vợ bên nhà, nhỏ mà đủ lớn cho Công nghe : “Thứ đồ thực-dân! đồ trưởng-giả, người ta hát cho mà nghe, sướng ḥng chết mà c̣n làm bộ hoài. Để tao lát sáng đêm tối ngày coi ai làm ǵ tao”.

Chết chưa ! Bây giờ anh đă hóa thành thực-dân mũi xẹp rồi đó. Và trưởng-giả nữa. Đây là thứ trưởng giả học làm nhà nghèo, đi ở nhà lá đây, và được hân hạnh người ta hát cho nghe !

Nhưng những lời nói xấu ấy không làm anh khổ bằng câu hâm dọa, hát tối ngày sáng đêm. May thay, đó chỉ là câu hâm dọa, v́ va cũng phải ngủ chớ thức sáng đêm sao được. Và tối ngày va mắc đi làm. Chỉ có bữa trưa là va hát trọn từ đầu chí cuối.

Con vợ cũng tùng đảng. Nó lên dây hoài sao không biết mỏi tay. Mỗi lần hát hết dĩa, nó quên, để kim chạy không, c̣n bị rầy nữa là khác.

Cái bọn nầy có lẽ là dân quê mới lên. Máy hát lại kêu là giàn hát máy. Và nó mê “giàn hát máy” như trọn đời nó mới thấy lần đầu.

Quả thật Công rất ghét vợ chồng anh láng giềng. Nhiều khi anh mong cho anh chồng thua cờ bạc, bán hay cầm máy hát đi. Anh lại mong cho vợ chồng nó đánh lộn, đập bể hết dĩa hát. Đánh lộn th́ chúng nó có đánh. Cũng có đập bể dĩa nữa, nhưng mà dĩa ăn cơm. C̣n dĩa hát th́ hai vợ cḥng đồng ḷng bảo vệ, y như là hai nước giao chiến với nhau, bằng ḷng theo ước-lệ quốc tế, kính trọng những nơi có dấu hiệu Hồng-thập-tự. Có nước tham chiến thua quá c̣n xâm phạm ước-lệ đó chớ hai vợ chồng nầy thật là đứng đắn, thành tâm, thật ư.

Có khách tṛ chuyện với nó, nó cũng hát, không biết để ai nghe. Mạnh người, người nói, mạnh máy, máy la ào ào. Người ta rán nói lớn hơn máy để cho nhau nghe. Công khiếp sợ, bịt tai ôm đầu lại.

Đó là một hạng người chịu sự im lặng không được. Họ thấy rỗng không trong sự yên tĩnh, không biết nghĩ ǵ hết, nên phải cho máy nó làm ồn đế lấp chỗ trống rỗng ấy đi. Không phải họ nqhe hát hoài đâu, Công chắc chắn như vậy. Bằng cớ là có nhiều khi vừa khởi sự căi lộn, họ vừa lên dây máy hát. Như vậy có phải để nghe đâu.

Thét rồi không biềt làm sao để thoát nạn, Công định lợi dụng t́nh thế ấy cho đỡ khổ. Anh nghe hát, có thưởng thức điệu đàn, câu ca. Nhưng ác một nỗi là nó chỉ hát vọng-cổ. Mà vọng-cổ là điệu đàn anh ghét nhứt. Không phải v́ vọng-cổ ủy-mị. Không, nó không đủ ủy-mị để anh sợ mà tránh. Nó ngô-nghê, lố-bịch, không nghệ-thuật ǵ hết

Trời ! bộ họ sống để mà nghe ca vọng-cổ sao chớ ! Hết rên tới khóc. Vọng-cổ từ trưa tới khuya, từ khuya tới sáng.

Kể từ những ngày ấy, Công kết luận hai điều. : B́nh dân không biết lịch sự, b́nh-dân chưa hiểu nghệ-thuật. Anh c̣n hoài nghi về lời kết luận thứ nhứt. Anh tin như đinh đóng lời kết luận sau.

Công sợ nhứt bài “Đêm đông”. Không phải điệu Đêm đông tuyệt tác của Nguyễn văn Thương đâu nhé ! Đó cũng là điệu vọng-cổ mà lời là Đêm đông. Nó khởi sự như thế nầy : “Đêm đông cô tịch dưới ánh trăng mờ, cảnh vật đ́u-hiu của tiết trời thu u ám…”

Trời ơi, văn-chương kỳ lạ, đêm đông mà lại có tiết trời thu !

Nhưng h́nh như mỗi lần dĩa ấy bắt đầu rên khóc th́ Công nghe ở bển chắt lưỡi khen : Hay ! Hay lắm !

Một đêm, sau mấy giờ lỗ tai và bộ gân bị hành hạ, Công vừa thiếp ngủ th́ bị tiếng la bài hăi làm anh giựt ḿnh choàng dậy. Anh lắng tai nghe rơ th́ hiểu hết mọi việc : bà hỏa viếng xóm nầy. Biết rằng có ngày thế nào nạn nầy cũng xảy đến, Công không hốt hoảng. Anh vội xách va-ly quần áo, tất cả giang-sơn của anh, chạy ra ngoài.

Lửa cháy cách căn anh lối mười căn phố. Đờn bà con nít la khóc inh-ỏi, trong khi đờn ông hè-hụi lo dọn đồ ra. Nhưng không một ai lo chữa lửa hết, không hiểu v́ họ không biết tháo-vát, phó mặc cho sở chữa lửa công việc ấy, hay là v́ họ thấy chữa cũng vô ích. Nhà khít nhau như là chiến thuyền Tào-Tháo trên sông Xích-Bích, lại làm toàn bằng đồ dẫn hỏa, ai tài nào mà chữa cho được.

Lửa cháy lấn qua hai bên, lấn vô trong sâu. Người ta, từ trong đó chạy ra như kiến. Con nít khóc, đờn bà la, tre, nứa nổ rắc rắc. Mái nhà cứ nối tiếp nhau mà chảy như sáp. Nhiều căn nhà h́nh như là có chứa dầu xăng trong chai. Khi lửa ḅ qua đó th́ nghe tiếng nổ, rồi ngọn lửa bùng lên một vài giây.

Gió nghe lửa rủ, kéo tới. Lửa gặp gió mừng rỡ, càng hung hăng thêm.

Công vừa muốn bỏ va-ly đi khiêng đồ phụ với họ, th́ thấy lửa cháy đă gần tới căn anh. Anh đứng nh́n. Th́ lửa cháy căn anh cũng như cháy căn khác, có ǵ đâu lạ. Nhưng anh vẫn muốn xem. Xem coi khi chính căn nhà ḿnh cháy, cảm tưởng ḿnh ra làm sao.

Anh. nghe sau lưng có tiếng đờn bà hỏi :

-     Anh đem ra được cái ǵ ? Tôi ôm quần áo ra hết.

Đó là tiếng chị hát máy. Công sực nhớ lại vụ hát máy, cười thầm :

“À, thế th́ từ đây ḿnh thoát. Trọn đời nhứt định không dám ở gần người có máy hát nũa.”

Công nghe vui vui v́ anh thấy như là đă trả thù được thằng cha đáng ghét. Và không hiểu sao anh cứ tưởng là cái máy thế nào cũng phải cháy, c̣n cái nhà th́ c̣n, và từ đây anh khỏi bị nghe hát nữa. Rồi anh nghe anh chồng trả lời :

-     Tao đem được hết mớ dĩa vọng-cổ ra.

-     Khôn dữ hôn, cái máy mắc tiền không lo, để ôm dĩa !

-     À phải, thôi để tao chạy vô lấy, ḱa lửa cháy tới kia !

Công rầu lắm, cứ trách sao chị vợ lại khôn quá như vậy. Để cái máy quỉ ấy cháy cho rồi, có phải đỡ khổ xóm giềng không.

Bỗng có người la :

-     Úy trời ôi, cái “bách-xê” của tôi, để trong hộc tủ. Thôi, chết tôi rồi !

Đó là tiếng của anh ở căn thứ ba, khít vách anh máy hát như tôi. Anh làm cu-li ở đâu đó, hổm rày bị thương nơi chơn, đi không được. Không hiểu làm thế nào mà anh lết ra được nơi đây.

Thằng cha hát máy vừa chạy vừa day lại hỏi :

-     Hộc tủ nào ?

-     Hộc tủ ở cái bàn nước đó !

Công thấy thằng cha hát máy không chạy vô căn phố anh ta, mà lại vô căn anh bỏ quên “bách-xê”,

Anh ta ra liền. Nhưng lửa đă cháy tới nửa căn nhà anh. Đôm đốm đỏ bầm bay túa ra, tre, nứa  nổ lốp-bốp. Anh ta do-dự, rồi bỏ đi chầm chậm trở lại chỗ Công đứng.

-     Nè cái “bách-xê” của anh. Bậy quá, tôi lo giùm anh nên lấy “giàn hát máy” không kịp !

Công nghe vợ nó thở dài :

-     Buồn quá anh há ! Từ đây làm sao nghe hát được nữa. Sắm sao cho nổi cái máy khác !

Công cũng buồn chết đi. Và anh hết thấy ghét vợ chồng thằng cha đó nữa.

 

           

© Binhnguyenloc.com

 



[1] Laisser-passer (giấy thông-hành thời Pháp trị)