Quyển gia phổ

B́nh-nguyên Lộc

 

Tiếng chó sủa vang ngoài ngơ, xa. Tồn nh́n ra ngoài. Ánh sáng xanh của chiếc đèn măn xông từ trong nhà tỏa ra sân, bị vườn cau ngăn lại. Không trông thấy ǵ, anh hỏi to:

-  Ai đó ?

-  Tôi đây ạ.

Cái giọng miền Bắc quen thuộc với Tồn ấy lại khiến Khoa ngơ ngác; anh nh́n người anh họ, hỏi bằng mắt rồi bằng lời:

- Ai đó vậy anh Tồn ?

-  Một người bạn.

Chó đánh hơi quen, thôi sủa. Người khách ban đêm đă qua khỏi vườn cau, dừng chân trước một cây cau ốm nhom, màu trắng mốc, mà ngó vào nhà. Y không vào ngay như thường lệ, v́ y thấy khách lạ trong ấy. Vả đêm đó là đêm ba mươi Tết, nên y c̣n ngại điều ǵ. Tồn ra tới ngoài thềm mời to:

-  Bác cứ vào.

- Vâng, nhưng bác đă vào khem chưa ?

- Vừa lên bùa dựng nêu xong là lác đến. Nhưng bác đừng ngại, tôi không kiêng cử ǵ đâu.

Người khách bước lên thềm. Y mặc một chiếc áo dài bằng thét hâm, đầu bịt khăn chữ nhứt chớ không phải chữ nhơn như Khoa thường thấy, chơn đi giày hàm ếch.

Y nghiêng ḿnh chào Khoa rất lịch sự rồi bước vào nhà. Tồn giới thiệu hai người với nhau.

-  Chú Khoa, em họ của tôi. Bác Thụ, khai thác lâm sản ở vùng nầy. Mời bác ngồi.

-  Cám ơn bác, thật tôi có lỗi quá, tôi...

-  Không hề ǵ, tôi không có kiêng cử ǵ đâu. Chú Khoa nè, bác Thụ đây là chỗ bạn thân nên tôi mời bác ấy đến ăn Tết ở nhà ḿnh cho vui. Bác nè, chú Khoa đây c̣n không được như bác; bác th́ bác chỉ xa quê hương thôi, c̣n chú ấy th́ không c̣n người thân nào trên đời nầy hết, trừ tôi ra. Hai người đến đây với tôi là phải.

Thụ, kẻ xa nhà, muốn t́m thân mật, ấm cúng trong đêm giao thừa, lại phải đụng đầu với một người khách lạ nên bác ta nhột nhạt và không khí trở nên lạnh lẽo. Làm thinh giây lát, bác nói: .

-  Tôi muốn xin phép bác xuống nhà sau thăm cụ.

- Phép với tắc ǵ. Ta cùng xuống dưới ấy cho vui vậy.

Trong các gia đ́nh nhà quê, nhà bếp là nơi vui vẻ nhứt vào những đêm giỗ tiên thường, vào những đêm ba mươi tháng chạp. Vui nhờ ở đó đông người cũng có, nhưng cũng nhờ nhiều thứ khác. Như đêm nay chẳng hạn; nhà có ba mẹ con, buồn hiu, thêm được một đứa cháu xa về và một người khách thân ở trọn ba bữa Tết, cả năm người đều sung sướng trong sự sum họp và nghe đầm ấm lạ.

Ba người con trai đều đưa mắt nh́n những lưỡi lửa đang liếm đáy của một cái tră ba bắt trên ba ông táo khổng lồ đặt ngay dưới đất.

Lửa bao giờ cũng vui, tiết ra nhiều sinh khí. Ánh lửa đỏ phủ màu mơ hồ quyền hoặc lên năm gương mặt hân hoan v́ ấm ḷng và ấm da bên cạnh cái ḷ, trong hơi lạnh thừa của tháng chạp c̣n chần chờ ở nán lại vài ngày đầu năm.

Ngoài kia bóng tối dày đặt, ngửa bàn tay lên không trông thấy, cứ lăm lăm ŕnh, chực chờ lửa hấp hối để tràn ùa vào.

Đó là h́nh ảnh xa xôi của một thời tiền sử, loài người c̣n ở lỗ ăn lông, tối lại nhúm đống lửa ngoài cửa hang để hơ ấm trong những đêm đông giá lạnh, hoặc để đuổi xua thú dữ.

“Hồi đó, hồi thuở đời xưa, trời sai ông Táo xuống làm thần giữ lửa …”

Đó là tin tưởng của dân ta qua truyện cổ tích và cũng vẫn c̣n là tin tương của dân ta hiện nay trong những giờ buồn tê tái. Thường th́ ta quên lửa đi, cuối năm ta chỉ c̣n đưa ông Táo v́ thói quen thôi, bởi v́ ta đă thu nhốt được lửa trong một cái hộp nhỏ, chỉ phát ra một cử chỉ nhẹ là có lửa rồi. Vị thần tôn lên trong một thời tối lạnh để giữ của báu bă bị bạc đăi từ lâu.

Trong những giờ buồn tê tái, ta lẩn thẩn h́nh dung vẻ hăi hùng của người thượng cổ, khi mặt trời rụng khỏi đầu non, họ lo sợ không biết rồi cái nguồn sáng và ấm kia ngày mai c̣n trở lại hay không. Ta lẩn thẩn tưởng tượng đến nỗi vui mừng của người tiền sử, họ nhảy múa quanh tia lửa đầu tiên của nhơn loại nó xẹt ra từ hai thanh củi khô cọ xát măi với nhau dưới bàn tay lơ đăng của một chủ hang.

Từ đó, từ ngày bắt gặp lửa một cách t́nh cờ may mắn, loài người sống rời rạc và trôi nổi b́nh bồng, mới dừng chơn quanh đống lửa, lập nên gia đ́nh đầm ấm, đêm đêm hằng nhen nhúm lửa thiêng. Từ đó lửa muôn năm được nuối nấng trong ḷ như đời người truyền kiếp muôn thế hệ. Loài người quí lửa cho đến đỗi dân La-mă đă bắt bọn nữ đồng trinh canh gác lửa từ ngày nầy qua năm khác, vô phúc cho cô nào lơ đễnh để tắt lửa thiêng, tội chết sẵn chờ các cô ấy.

Khoa cầm một thanh củi mà trở cho lửa bốc lên. Củi nổ lách tách phun lên những đám mưa than đỏ, tua tủa như pháo hoa cải, rồi nói:

-  Buffon đă nói sai khi cho rằng Cuộc chinh phục đẹp nhứt của loài người là con ngựa. Không, chính lửa mới là cuộc chinh phục đẹp nhứt của nhân loại. Lửa nhánh cây khô của những người đi rừng như bác Thụ đây, lửa hải đăng, nguồn hy vọng độc nhứt của kẻ hành thuyền ngoài khơi, lửa thuyền chài nhấp nhái trong sương, lửa câu dầm trên ruộng vắng, lửa ḷ sưởi của kẻ bới mớ tro ḷng, tất cả đều là bậu bạn, hay an ủi, vỗ về ta.

-  Chú nói rất đúng; con Dần em tôi đây, nó thường bị má tôi mắng v́ để bếp lửa bắt. Không biết v́ thói quen hay v́ nỗi lo âu di truyền nào mà má tôi thường để tâm nhen nhúm lửa cả ngày lẫn đêm. Chiều nào má tôi cũng nhắc nhở nó chụm vào bếp vài thanh củi găng. Thứ củi ấy chắc thịt, đậu than bền. Rồi đến đêm má tôi phủ lên đó một lớp tro mỏng. Thế là than âm thầm ngún cho đến sáng. Vốn thừa tự nỗi lo âu truyền kiếp ấy, tôi buồn rười rượi và thương hại vô ngần mỗi khi nh́n một mái nhà không quyện khói, v́

Cái bếp lạnh, mái nhà không quyện khói,

Là không có người nhen nhúm lửa thiêng. [1]

Bấy giờ cái tră nước đă kêu ấm. Bà Cả, mẹ của Tồn, bưng lại một rổ bánh chưng rồi lấy từng chiếc bánh một mà thả vô đó. Bánh rơi xuống nước kêu cải chũm, vài giọt nước nóng tóe lên. Bà Cả vội giựt tay ra rồi lấy chiếc khác.

-  Lạ quá, Thụ nói, sao cụ lại biết gói bánh chưng ? H́nh như người miền Trung và miền Nam chỉ biết gói bánh tét thôi chứ ?

Bà Cả cười và đáp:

-  Ấy, những gia đ́nh cổ ở đây c̣n nhớ cách thức gói bánh chưng.

- Gớm thật, truyền đến bảy trăm năm !

-  Cái ǵ bảy trăm năm ?

- Th́ cái bánh chưng chứ ǵ, từ đất Bấc vào đến vùng Thanh-Nghệ th́ nó đă biến thành cái bánh tét rồi. Bánh tét đi bảy trăm năm mới đến miền Nam. Nhưng song song với nó, bánh chưng vẫn lót tót đi theo. Làm sao mà họ nhớ dai đền thế...

-  Tôi học gói bánh chưng với mẹ tôi, mẹ tôi đă học với bà ngoại tôi và chắc là cứ như vậy cho đến bảy trăm năm về trước.

- Thưa cụ, tại làm sao mà cụ không gói bánh tét như tất cả mọi người ở đây ?

- Bảnh tét chặt tay quá, ông tôi hồi sanh tiền ổng không ưa, nên tôi phải gói bánh chưng rồi nó cứ quen cái lệ ấy đi.

Một chị hàng xóm bỗng bước vào, tay xách hai đ̣n bánh tét sống, lá gói c̣n tươi rói, cột dính đầu lại với nhau. Chị ta nói:

-  Thưa bà, bà làm ơn cho cháu gởi hai đ̣n.

-  Bánh của mầy lớn quá, sao mầy không đem lại cho sớm để tao lót tră, bây giờ bỏ vô nó nhẹp hết bánh của tao. Nhưng thôi th́ cũng cứ gởi đi chớ biết làm sao bây giờ.

Chị hàng xóm cẩn thận như thả trứng để luộc, nín thở nh́n hai đ̣n bánh tét nặng nó ch́m mau rồi xuưt xoa như sợ bể vỡ cái ǵ dưới ấy.

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,

Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Khoa lơ đăng nh́n chị hàng xóm bước ra, miệng đọc hai câu đối cổ trên đây, rồi như sực nhớ lại điều ǵ, day qua hỏi Thụ:

-  Chắc bác thích ăn bánh chưng hơn bánh tét nhiều ?

-  Đúng thư thế. Ăn Tết trong gia đ́nh nầy, tôi thấy như về gần quê tôi hơn là ăn Tết trong bất kỳ gia đ́nh nào khác ở đây. Nhưng...

-  Nhưng làm sao ?

-  Nhưng mà cũng chưa thật phải cái không khí Tết của ngoài tôi...

-  Ừ, Tồn nói hớt, năm ngoái cũng ăn Tết ở đây, bác ấy cho rằng vui nhưng cứ nghe nhơ nhớ cái lạnh, nhơ nhớ b́nh thủy tiên, và rất nhiều thứ lặt vặt khác. Tất cả những thứ lặt vặt ấy họp lại thành một chứ ǵ to lớn nói ra không được, nhưng rất thân yêu.

Khoa mỉm cười nh́n những bóng h́nh kỳ dị nhảy chập chờn trên vách bổ khô, giây lâu anh nói, không nh́n ai hết, có lẽ là nói với cả hai người con trai kia:

-  Cải ǵ cũng do thói quen hết. Bác Thụ thấy trong nhiều năm lối ăn Tết của miền Bắc rồi cứ ngỡ là Tết phải như thế, khác đi th́ không phải là Tết nữa. Chúng tôi đây cũng vậy, quen ăn Tết trong ba trăm năm, từ ngày đổ xô vào khai hoang ở đây, với dưa hấu và đường phổi, rồi nghe không phải là Tết nếu thiếu hai món đó. Nhưng ngoài quê của bác Thụ làm ǵ có dưa hấu vào đầu xuân, nên bác chỉ dửng dưng như không, nếu thiếu dưa và đường. Thói quen gạt gẫm ta lắm đó. Con người hay bám níu vào những h́nh ảnh, những màu sắc, những mùi vị quen thuộc lắm, bám víu vào rồi thấy nó là thiêng liêng không rời được nữa. Đất, mồ mả, gia đ́nh, cái ǵ cũng thiêng liêng tuốt. Th́ cũng thiêng liêng thật đấy. Nhưng cái thiêng liêng đó chỉ do ta tạo ra để mà mến vậy thôi. Người du mục chắc không mến đất, không bịn rịn cái lều vải của họ, và hỏa táng nên họ thấy mồ mả là thứ chướng mắt.

Tôi nói điều nầy không ngoa là sở dĩ anh Tồn bảo thủ lắm như vậy chỉ v́ anh có nhiều đồ sứ cổ quá. Nếu một tai nạn xảy ra đập bể những thứ ấy đi, anh sẽ xuưt xoa thương tiếc vài ngày rồi sợi dây vô h́nh ràng buộc anh với các thứ ấy sẽ tiêu lần lần cho đến một khi kia, anh không c̣n bận bịu với ǵ nữa cả.

Tồn và Thụ đều có cảm giác rằng Khoa là một kẻ đă ê chề v́ hắn đă mất tất cả những ǵ quí nhứt của đời hắn. Đó là luận điệu chua cay của nuột anh mất gốc, nhẫn nại chịu số phận và cố t́m tư tưởng gọi là mới để an ủi ḿnh và để nuốt cho trôi những biến chuyển trong ḷng mà hắn bắt buộc phải trải qua.

Thụ muốn đùa Khoa một câu rất ác, nhưng không dám. Bác ta nói cho nhẹ ư đi:

-  Nhưng bác về đây ăn Tết chắc cũng v́ thấy không khí già đ́nh là thiêng liêng chứ ?

Khoa không đáp v́ anh thấy người anh họ đă đứng lên đi dọn một cỗ nhỏ để cúng giao thừa. Anh tiếp tay người anh họ, sợ rằng người anh nầy khinh anh là một gă mất gốc quên cả tổ tiên. Khi cặm nhang trên lư hương. Khoa bỗng khựng lại vài giây khi anh trông thấy ǵ đó không biết nữa.

Khoa làm cái công việc nhỏ là cặm nhang ấy sao mà lâu quá. Nhưng rốt cuộc rồi anh cũng làm xong. Bấy giờ pháo giao thừa đă trả lời nhau từ xóm nầy qua xóm khảc. Họ không nói với nhau ǵ nữa cả, lắng nghe tiếng pháo nó có một giọng nói riêng: đây là thứ pháo giận dữ, kia là thứ pháo bịnh hoạn đuối hơi, xa nữa có thứ pháo điệu máy hát, vừa nổ vừa mỏn lần, rồi lại nổ to lên để rồi hạ giọng nữa như là thỉnh thoảng được lên dây thiều một lần.

Bỗng Tồn dớn dác nghe ngóng rồi nói:

-  Ǵ mà nghe có mùi khen khét.

Thụ hít gió và cũng ḍm quanh rồi la:

- Khói trên bàn thờ !

Cả ba cùng nhảy xuống đất một lượt v́ quả họ thấy cải ǵ đang ngún cháy, un khói trên ấy.  Khi họ chạy tới cạnh bàn tổ tiên nhà Tồn th́ lửa đă bắt ngọn lên cao đến đầu con lân của chiếc nắp lư đồng vỏ cua.

-  Trời ơi, chết tôi rồi !

Tồn kêu lên thất thanh rồi lính quưnh, anh xô ngă cả chơn đèn, lư đồng mà vẫn không dập tắt được ngọn lửa. Thụ th́ b́nh tĩnh hơn, nhảy lên một cái ghế đẩu, trật khăn ra rồi dùng khăn ấy mà dập lửa. Lửa hạ, những mảnh lửa vụn bắn tung lên, bay như bươm bướm. Thụ lại vói tay lấy tô sứ cổ đựng đầy nước lạnh trên bàn thờ, tưới ngập chỗ c̣n ngún khói. Bác ta nói:

-  Sợ nhiều hơn là bị thiệt hại, anh Tồn à. Ǵ mà như là quyển lịch Tàu ấy.

Tồn đứng chết sửng như trời trồng, há miệng trố mắt mà nh́n những sợi khói thừa nhỏ như sợi chỉ uốn ḿnh theo h́nh khu ốc mà bay lên trần.

-  Đă bảo không thiệt hại ǵ kia mà sao anh chết sửng ra thế ?FF

Tồn cứ làm thinh rồi chồm lên bàn thờ đưa tay kéo quyển sách thọ nạn. Giấy bản đă cháy trọn nhưng tro c̣n uguyên tờ. Tồn vừa chạm tới sách th́ những tờ tro ấy lại ră nát như hoa cải ră ra khi người cải táng nạy nắp săn lên. Tay anh run run hốt mớ tàn giấy lên, rồi ngửa tay ra mà xem. Trong một cơn tức giận, anh ṿ tàn giấy bể vụn ra, đoạn rải tro xuống chơn bàn thờ. Anh chán nản nh́n Khoa mà rằng:

- Quyển gia phổ nhà ta !

Khoa sửa lấy một vẻ mặt buồn cho hợp lúc rồi nói:

-  Cũng chẳng chết ai. Chán vạn gia đ́nh khác không có gia phổ th́ đă sao. Tổ tiên ta cũng vẫn c̣n nơi ḷng ta, mặc dầu mất ghi trong tập giấy cháy.

Trong khi Tồn c̣n tần ngần đứng nh́n đống tro th́ Khoa kéo Thụ trở lại bàn rượu.

- Anh Tồn anh ấy khổ sở thế v́ quyển gia phổ ấy giúp ảnh bằng cớ để mà tự hào về ḍng họ cổ nhứt miền Nam của chúng tôi: c̣n mồ mả những mười hai đời và gia phổ chép đến mười lăm đời. Ảnh tự hào rồi măi vướng bận v́ những bảo vật ấy. T́nh quyến luyến đó theo tôi cũng không hại ǵ cho lắm. Ác một cái là nó kéo theo cả bầy cả lũ những thứ t́nh ư khác, cái nào cũng cổ kính như ngôi mộ cổ đóng rêu. Thí dụ ảnh quả quyết rằng một cuộc kỹ nghệ hóa xứ sở sẽ giết chết hồn thơ của đồng quê ta đi. Ảnh tin nơi sự thiêng liêng của một trật tự cũ, thấy ngôi miễu nhỏ dưới gốc da là đẹp với những ông táo bể đầu, những ông vôi mẻ miệng, thấy con trâu kéo cày, trước một rặng tre là nên thơ. Theo tôi, những tṛ ấy toàn là tṛ quyến rủ v́ quen mắt thôi. Một trăm năm nữa người ta sẽ quen với h́nh ảnh một anh thợ máy ngồi trên máy cày và h́nh ảnh mới ấy lại sẽ nên thơ được như thường.

Anh Tồn nè ! Anh tự hào về ḍng dơi ta mà làm ǵ ? Xă hội loài người làm bằng muôn triệu kẻ không tên, không tuổi chớ không phải làm bằng ḍng dơi họ Lê hay họ Trần. Muôn triệu kẻ vô danh ấy, v́ lưu lạc nổi trôi, có thể không biết đến ông tổ hai đời của họ. Nhưng họ vẫn giỏi dang được và giúp rất mạnh vào sự đi tới của loài người.

Tồn cười gay gắt mà rằng:

-  Luận điệu của chú rất chí lư đối với những người không may đă mất cả. Như vậy nó chỉ đúng một cách tương đối thôi. Ai c̣n th́ họ có lư mà bám vào cái c̣n của họ. Dừng bảo rằng họ lầm và tôi lầm, và nhứt là đừng làm cho họ mất cả để ḷng họ biến chuyển mà nghĩ như chú.

-  Không, tôi có làm ǵ...

-  Tôi không biết chú có làm ǵ hay không, nhưng khi năy chú thắp nhang, đứng nơi bàn thờ lâu quá, khiến tôi bây giờ nhớ lại mà phát nghi.

-  Trời ơi, anh lại…

- Chú có tật hay cả tin rằng những ư nghĩ của chú là đúng hơn ư nghĩ của mọi người khác và rất khổ sở mà thấy họ không nghĩ như chú. Như thế th́ chú dám làm cho người ta mất truyền thống lắm. Chú có làm hay không, không quan hệ, nhưng chú có nghĩ đến và rất dám làm.

Khoa làm thinh và Thụ rất băn khoăn muốn biết xem sự im lặng ấy là lời thú tội hay là thái độ xem thường kẻ kết tội oan.

.

 

 

           

© Binhnguyenloc.com

 

 



[1]   Thơ của tác giả.