Mưa thu nhớ tằm

B́nh-nguyên Lộc

 

Lời tác giả - Bài văn nầy nằm trong tập hồi kư nhan đề là “Nếu tôi nhớ kỹ”, tác giả trích ra đăng ở đây để ghi nhớ rằng tất cả các truyện trong tập  Mưa thu nhớ tằm”, trừ hai truyện “Kẻ đào ngũ” và “Xác không chôn” đều viết cùng một mùa với hồi kư “Mưa thu nhớ tằm”, tức vào mùa thu 1956.

 

Thương tằm cổi áo bọc dâu,

Ngỡ tằm có nghĩa hay đâu bạc t́nh

(Ca dao địa phương Nam Ngăi)

 

Những năm tôi đi t́m “tài liệu sống” để viết tiểu thuyết Phù-Sa, tôi được dịp tiếp xúc với nhiều người khác thường họ đă mở cửa sổ ḷng cho tôi nh́n những chơn trời kỳ lạ hết sức.

Dưới đây xin kể một mẩu truyện nhỏ để minh họa nhận xét trên.

Đi đường Trương Minh Giảng để ra ngoài đô thành, khi qua khỏi Cầu Mới, bên tay mặt khách, đâm ra một con đường phố mới, chưa có tên, tạm gọi là Lộ 18 [1].

Bên phía tay mặt phố là một xóm nhà lá khá sầm uất, có cả một cái chợ chồm hổm nơi đó, tục gọi là chợ Bà Y.

Đó là xóm nhà của đồng bào Quảng Nam - Quảng Ngăi tới đây lập nghiệp từ lâu, kẻ trước người sau, từ hơn hai mươi năm nay.

Người ta giới thiệu tôi với gia đ́nh ông Y, mà tên của người vợ được lấy đặt tên chợ.

Ông Y, là một bác thợ dệt, gốc ở phủ Điện-Bàn, tỉnh Quảng-Nam, vào đây sanh sống từ những năm đói kém tiền chiến.

Bác ta làm công cho một xưởng dệt Khách ở Chợ-Lớn.

Hôm tôi vào xóm Quảng-Nam năm ấy, trời giữa thu như độ nầy.

Mưa dầm không nặng hột cứ rơi măi không thôi. Thế mà khi tôi bước vào nhà với một người bạn th́ chúng tôi bắt chợt bác Y đang làm công việc ǵ đó ngoài sân. Chúng tôi phản đối lấy lệ khi bác bỏ làm để tiếp khách. Nhưng quả thật chúng tôi không buồn xem cho biết công việc của bác thuộc vào loại gi.

Cũng như ở các ngoại ô xa khác, xóm nhà lá nầy khá nên thơ: Sân cát, quanh nhà trồng tre sống mà những mụt măng gợi nhớ nhà quê.

Tôi hỏi thăm bác Y về đời sống hằng ngày ở Quảng-Nam, hỏi tên những cây mọc dựa đường, tên địa phương của dụng cụ nông nghiệp v..v..và xin bác đọc cho chép một mớ ca dao địa phương mà bác nhớ.

Bác Y, lơ đăng trả lời, tỏ ra, không phải không trọng khách, nhưng bực bội về những đề tài bác không thích.

Được dịp tiếp xúc với thợ kỹ nghệ, tôi khá sành tâm lư họ. Phần đông thích nói chuyện nghiệp đoàn, chuyện giải trí ở châu thành, hoặc khoe nhà máy. Nếu lúc đó tôi hỏi bác ta xưởng bác sản xuất mấy vạn khăn lông mỗi tháng chắc bác ta nồng nhiệt trả lời, kể ra hằng tá chi tiết rất khô khan. Nên chi tôi không ngạc nhiên và thất vọng lắm về vẽ lạnh lạt của bác.

Cuộc “phỏng vấn” đă chấm dứt, nhưng trời cứ mưa hoài, nên chúng tôi ngại ra về.

Ngồi nh́n giọt tranh măi cũng chán, nên tôi lén quan sát người chủ nhà hà tiện lời kia. Bỗng tôi sực nhớ một cử chỉ của bác ta mà tôi bỏ qua từ lúc khởi đầu nói chuyện với bác: là mắt ông Y luôn luôn nh́n ra góc trái sân nhà và không bao giờ rời chỗ đó ca.

Chà, bậy quá, tôi nghĩ thầm. Té ra bác ta có một công việc quan trọng nơi đó mà phải bỏ dở v́ ḿnh. Tôi nh́n theo chỗ ngó của ông Y. Qua những làn mưa tro trắng đục, tôi thấy lơ thơ vài bụi sả đang ngă nghiêng trước gió. Phía sau mấy bụi sả là một cây dâu già, to bằng cây ổi bốn năm tuổi.

Nước mưa thoát ra đường ṃn trước nhà do góc rào đó và mài khuyết đất quanh gốc dâu. Một cái mương nhỏ đang đào dở chừng để xuyên tạc đường nước, bấy giờ đă bể bờ và nước lại trở về đường cũ.

Th́ ra hồi năy bác Y đang bận cứu cây dâu, chừng như quí lắm nên bác ta mới dầm mưa mà làm việc và hiện đang sốt ruột trông thấy.

- Cây dâu nầy bác trồng à ?

- Dạ, trên mười năm rồi !

- Để làm ǵ, rơ miệng cho các cháu ?

Ta có tục tẩy lưỡi trẻ con bằng lá dâu v́ thứ lá nầy nhám.

- Dạ không, tôi không có con.

- Vậy để đuổi tà ma?

Bác Y mỉm cười:

- Tôi không sợ ma quỉ cho lắm.

Mặt bác Y giăn ra, bớt vẻ băn hăn bó hó.

- Chớ bác trồng dâu làm ǵ ?

- Để cho nó giống làng tôi. Trong Nam nầy, ít khi tôi được thấy cây dâu lắm, nhứt là ở Sài-g̣n.

- Ngoài bác, người ta trồng dâu nuôi tằm hả ?

Nghe nói tiếng „tằm”, mắt bác Y bỗng sáng lên rồi ươn ướt.

Tôi chợt hiểu bác ta, kéo ghế ngồi xít lại gần bác rồi hỏi thêm, giọng cố thân mật:

- Cây dâu khiến tôi nhớ tằm. Có phải để...

Bác Y bẽn lẽn như con gái bị người ta đoán trúng tim đen, nhưng lại sung sướng đến mọc óc trên da mặt.

Bác quên tôi là người lạ, nắm lấy tay tôi, nói một thôi không ngớt:

- Những ngày trời ủ dột như vầy, tôi nhớ nhà th́ ít mà nhớ tằm sao mà như nhớ người t́nh nhơn đầu. Tôi nhớ “hén” lạnh, tôi nhớ “hén” đói v́ dâu ướt át suốt ngày, khó t́m ra dâu ráo cho “hén ăn”.

Bác Y nói đến con tằm mà y như người ta nói đến một người bạn, dùng tiếng “hắn” để kêu nó, và cái giọng Quảng-Nam biến hắn ra hén, nó bùi ngùi làm sao buổi trưa hôm đó.

- Nên tôi trồng cây dâu nầy, bác Y tiếp, để sáng sáng, chiều chiều ra nh́n lá mà nhớ hén. Nhiều đêm, nằm vừa thiu thiu ngủ là tôi nghe văng vẳng tiếng rào rào, ngỡ hén đang ăn lên, tôi vụt ngồi dậy rờ quanh th́ không có ǵ hết.

Buồn quá tôi thắp cây đèn dầu, chạy ra sân soi vào lá với hy vọng hăo huyền t́m gặp một con tằm hoang.

Lạ thật! Ngày xưa, cách đây mấy ngàn năm, tằm vẫn ở hoang chớ phải không thầy? Nhưng sao bây giờ không có tằm hoang nữa. Tôi trồng cây dâu nầy mười năm, mỗi đêm mỗi trông đợi mà không bao giờ gặp tằm hoang cả.

Lúc ấy từ nhà ai ngoài sau, vọng đưa ra tiếng hát ru con. Tiếng ấy hát rằng:

Ù... Ơ... Em tôi buồn ngủ buồn nghê,

Con tằm đỏ chín, con đê đỏ mùi.

Nghe hát, bác Y chụp nói:

- Thầy có thấy tằm “hén”chín đỏ bao giờ chưa? Trời, nó khéo[2] và nó dễ thương làm sao! Hén ngủ “thức lớn” rồi hén thức chơi với ḿnh suốt bảy ngày, rồi hén “chộ”.  Xong là hén chín. Ban đầu một vài con, rồi cả nong đều chín đỏ như người bạn trung thành đang đau khổ dồn hết bao nhiêu máu huyết lại để chuẩn bị nhả tơ cho ta dùng. Thương biết bao nhiêu!

À, thầy nên chép câu ca dao nầy mà hồi năy tôi quên:

Thương tằm cổi áo bọc dâu,

Ngỡ tằm có nghĩa, hay đâu bạc t́nh.

Con tằm hén giống như đứa con èo uột. Hén hay đau ốm lắm. Ḿnh cực khổ với hén hết sức mà lắm khi hén bạc t́nh, hén lăn ra chết ráo nạo từ nong nầy qua nong khác. Mà có lẽ cũng v́ hén như hũ mắm treo đầu giàn như vậy nên ḿnh thương hén càng nhiều chăng?

Mà thầy ôi, bạc t́nh chính là tôi, chớ không phải tằm đâu. Tôi đă bỏ tằm, vô trong nầy... người bạn tôi có lỗi ǵ đâu.

Bấy giờ tôi mới hiểu thấu đáo con người đó.  Đây là một anh thợ tiểu công nghệ miễn cưỡng trở thành một anh thợ kỹ nghệ nên cứ bùi ngùi nhớ xưa. Và quả anh ta ḷng không khô héo như tôi đă ngỡ.

Người thợ tiểu công nghệ rất thương nghề v́ chính hắn làm lấy mọi công việc. Bác Y đă khó nhọc để tằm, bền chí ươm tơ nên bác thương nhớ tằm là phải lắm.

Bác Y lại tiếp:

- Tơ mà nó vô tới Sài-g̣n th́ mùi tằm không c̣n được bao nhiêu. Tôi ưa hít tơ lắm, như là hít áo của một người yêu để nhớ hơi, mà tơ ở đây, hít đến mệt phổi cũng không nghe hơi hám gi.

Mưa đă dứt. Người bạn tôi đă nhiều lần ngáp dài giữa câu chuyện “con tằm đỏ chín”nầy nên đứng dậy kiếu về.

Tôi siết chặt tay bác Y nhưng chắc ḷng tôi thương bác không bằng bác nhớ tằm.

Ra đến ngoài, bác c̣n hỏi tôi:

-  Chắc thầy cũng thương tằm lắm phải không? Tôi nh́n mặt thầy th́ đoán biết.

- Phải, tôi nói láo bừa, tôi thương tằm lắm. Bà nội tôi ngày xưa có để tằm mà !

 

Thu 1956

 

           

© Binhnguyenloc.com

 



[1]   Lộ 18, sau đó được đặt là Trương-Tấn Bửu rồi bây giờ là Trần-Quang-Diệu

[2]   Đẹp, nói theo miền Trung.