Truyện ngắn HƯƠNG QUÊ

 

Trận giặc ṃng

 

B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Mười hai giờ đêm.

Làng quê đang an-giấc, bỗng đâu tiếng tù-và vang dội lên, khiến kẻ nào lạ mặt vào làng chơi và ở lại tối đó, sẽ hốt-hoảng, ngỡ đó là tiếng gọi nhau của một bọn cướp, như vào thời xưa, hoặc tiếng c̣i báo-động của dân canh trong làng.

Tiếng tù-và thổi hồi hừng đông, nghe vui nhưng cũng cứ tiếng ấy mà nghe hồi nửa đêm, sao mà nó rùng-rợn lạ-kỳ.  Cảm-giác nơi ta, không thật, mà là phản-ứng điều-kiện (reflexe conditionné); ta đă nghe tiếng tù-và nửa đêm rồi liền đó th́ thấy cướp đánh, giặc tới, cách đây hằng trăm năm, rồi cứ bị h́nh-ảnh cũ đó ám-ảnh ta măi, nên ngày nay, bất-kỳ tù-và nào mà thổi vào cuối canh hai, giữa canh ba đều làm cho ta khủng-khiếp.

Giữa đêm trường lặng-lẽ, tiếng tù-và nghe oai-hùng lắm, nó gợi lên h́nh-ảnh của một tướng soái hay một chúa đảng cướp, cỡi ngựa chạy tiên-phuông, một tay cầm cương, một tay đưa cái sừng trâu lên miệng, thổi một hơi dài rồi hươi sừng trâu làm hiệu cho binh-sĩ của ḿnh hay cho đồng-đảng của ḿnh tiến lên.

„Ú … ù … ú … ù … ú … ù …“

Nhà nào ở gần lộ xe, nhứt là tại ngả-tư giữa làng, đều nghe thêm được tiếng bánh xe ḅ lạch-cạch trên con thôn-lộ trải đá xanh, và họ đoán có hàng trăm chiếc xe vừa điều-động lên đường  chớ không phải là ít.

Miền Đông có ba loại xe ḅ.  Tại một vài thị-trấn như G̣-Vấp, Lái-Thiêu, người ta dùng những chiếc xe lớn sao mà như là xe cam-nhông.

Trong thôn-quê chỉ có hai loại xe là được thông-dụng: xe chà-rẹc, nhỏ, nhẹ-nhàng, mảnh-mai, không chở nhiều, không chở nặng được nhưng được cái là có thể cho chạy mau, nếu ḅ tốt, bằng ḷng chạy theo lịnh người đánh xe.

Ngoài chà-rẹc, có xe loại hai thùng thật là nhỏ chỉ dùng trong độc một công-việc, là việc kéo củi.  Củi đây là củi chẻ, thợ rừng chẻ ngay trong các „cúp“ giữa rừng, chẻ xong, phải kéo về làng, có bến, ghe thuyền hoặc xe cam-nhông sẽ chở xuống các thành-phố lớn.

Nghe tiếng bánh xe ḅ khua đá trải đường, người làng mới nhớ ra đó là tù-và báo hiệu lên đường.

Không hiểu do đâu, và từ bao lâu rồi không ai nhớ nữa, mà làng T.U. nầy trở thành trung-tâm khởi-hành của đoàn xe ḅ đi kéo củi trong rừng sâu.

Làng nào cũng có vài mươi xe làm nghề nầy, nhưng xe của làng nào cũng tựu về đây cả, tại ngả-tư làng, đợi đúng nửa đêm, họ ra hiệu để cùng lên đường một lượt với nhau, ai đang nhậu nhẹt, ai đang đi thăm mèo chuột ǵ cũng đều bỏ cả bởi đường đi là đường rừng dài mấy mươi cây-số, không gặp cướp chúng nó giựt ḅ, cũng gặp cọp, phải đoàn-kết chớ không làm sao mà đi lẻ-tẻ một ḿnh, hoặc năm, bảy xe được.

Gần hai trăm chiếc xe thùng nhỏ đều đổ về con đường đưa vào rừng, bỏ ngả-tư lại trơ-trọi, quạnh-hiu, nửa tiếng đồng-hồ sau đó, để rồi lại trở về đây, vào khoảng bốn giờ chiều hôm sau, thùng nào cũng đầy nhóc củi chẻ sấp lớp ngay ngắn như cá ṃi.

Đặc-biệt hôm nay, hai trăm năm mươi chiếc xe kéo củi nầy lại chở đến năm trăm người.  Hai trăm năm mươi người dư, không có phận-sự đánh xe, là một tiểu-đoàn xung-phong, đi hành-quân để chống giặc … ṃng.

Những người làm ăn nghề nào, họ sành-sỏi trong nghề ấy một cách huyền-hoặc lắm.  Bọn kéo củi nầy hôm qua chợt nhớ ra rằng đă vào đầu tháng năm ta rồi, và những trận mưa mở mùa đă rơi xuống được năm, bảy đám.

Họ thuộc ḷng con đường vào rừng, họ thuộc ḷng vị-trí của các „cúp“ củi, họ thuộc ḷng đến cả h́nh-dáng của mấy con cọp trong gia-đ́nh cọp của khu rừng mà họ sắp dấn thân vào.  Nhưng những cái biết ấy cũng không kinh-dị bằng họ biết một điều rất là thầm-kín, về đời sống của loại ṃng, những con vật có cánh, to hơn con lằn xanh một tí, và sống bằng máu của những sanh-vật khác, y như loài muỗi vậy.

Họ biết rằng hễ trời mưa được năm, bảy đám đầu mùa th́ trứng ṃng trong rừng, ẩn dưới các lá ủ, nở ra, rồi ṃng con sanh-trưởng nhanh-chóng lạ-kỳ, trong ṿng một tuần-lễ, chúng đă lớn bằng con ruồi.

Bấy giờ th́ thú rừng chạy như điên, vào ban đêm, bởi không giống thú nào mà chịu nổi sức tấn-công của ṃng, kể luôn cả cọp, mặc dầu được suy-tôn là chúa sơn-lâm.

Bọn kéo củi tiên-liệu rằng đêm nay họ sẽ bị tấn-công, thế nên mới cầu-viện với tiểu-đoàn yểm-trợ nầy đây.

Lạch … cạch, lạch …. cạch … Hằng năm trăm bánh xe ḅ mà là bánh bịt thép, nặng-nề di-chuyển.  Thùng xe, nói cho đúng hơn là ḷng thùng xe, làm bằng những khúc cây rừng tươi, to bằng cổ tay, đang lắc-lư như đầu anh say rượu, thế mà trong đó hằng trăm anh lính xung-phong cảm-tử lại nằm ngủ ngon lành.

Chưa tới đoạn đường nguy-hiểm, nên họ ngủ để dưỡng-sức, giấc ngủ nầy vốn đến với họ từ lúc đầu hôm khi xe lên đường, họ hay biết, nhưng vẫn ngủ tiếp.

Lạch … cạch, lạch … cạch …

Chưa chi mà bọn đánh xe ḅ đă lấy cơm ra ăn v́ thức khuya, dễ đói bụng, mà bây giờ đă hơn một giờ đêm rồi.

Cơm dở đi đường là cơm mo, nấu thật nhăo rồi ép lại trong một tấm mo cau dành riêng để đựng cơm.  Khối cơm bị ép dẹp lại như chiếc bánh gói, ngon hơn cơm nắm nhiều, mà lại vệ-sinh nữa, v́ tay người không hề rờ tới.

Anh đánh xe ḅ nào cũng dở theo tới ba mo cơm để ăn bây giờ, ăn điểm-tâm, và ăn vào giờ ngọ hôm sau, khi họ c̣n trên đầu đường về.

Bữa cơm khuya nầy c̣n cho họ cái lợi là tránh mất trộm ḅ.  Vâng, bọn cướp ở rừng tài lắm.  Họ đang kéo xe đi, chúng vẫn đánh cắp được, dễ như chơi, nếu các anh đánh xe mà ngủ quên.

Có ǵ đâu!  Xe đi chậm lắm.  Bọn trộm đông lối ba đứa là làm ăn được rồi.  Chúng nó chia ra, hai đứa đi theo mở ḅ, trong khi một đứa đưa vai lên vác lấy cái đuôi tôm, tức là cái cây từ đầu xe ḅ đâm ra, cái cây mà đằng đầu ách ḅ gác lên đó.

Ḅ được phóng-thích rồi th́ thằng vác đuôi tôm, hạ liền đuôi tôm lên sạp của chiếc xe trước, cột lại thật chặt: thế là đôi ḅ trước kéo một lần hai xe, cặp ḅ sau th́ đi theo bọn trộm.

Không có cái bữa ăn nầy th́ đêm nào cũng có vài cặp ḅ bị đánh cắp một cách tài-t́nh như vậy.

Mấy trăm anh đánh xe ḅ bắt đầu nhai cơm cục mời xắn với khô sặt khi họ rời con đường trải đá xanh, đi vào con đường đá đỏ, con đường rừng thật-sự.

Đá đỏ lâu đời đă nát thành bụi nên xe đi êm-rơ, và đây là con đường nguy-hiểm v́ các anh đánh xe rất dễ ngủ quên.

Người lao-động họ ăn rất mau, nên mười phút sau, anh nào cũng kéo bầu nước từ trong thùng xe ra, mở nút bầu rồi hả miệng, ngửa mặt lên trời để rót ngay vô cuống họng.

Anh X̣n uống chưa xong th́ nghe đằng trước xa lắm, có tiếng la.  Rồi th́ xe nầy truyền qua xe khác, tiếng kêu la ấy được lặp lại:

-          Đốt đuốc lên!

Anh X̣n biết rằng đă tới khu rừng danh-tiếng về ṃng rồi, nên vừa hô lên ba tiếng trên đây cho xe sau nghe, vừa lay anh lính xung-phong dậy.

-          Đốt đuốc lên!

Tiếng lịnh ấy chạy từ đầu đoàn tới cuối đoàn, trong mấy phút đồng-hồ nó đi được một cây-số, đi suốt bề dài của đoàn xe ḅ.

Rồi th́ ánh lửa đầu tiên nổi lên, cũng cứ nơi đầu đoàn.  Ánh lửa cũng chạy dài từ đầu đoàn tới cuối đoàn, như tiếng kêu, chỉ có khác là tiếng kêu không dừng lại xe nào cả và chạy tới xe chót th́ tắt luôn, c̣n ánh lửa nở ra trên xe nào th́ tiếp-tục soi-sáng xe đó và dây lửa dài ấy c̣n nguyên chớ không chết.

Những anh lính xung-phong đốt đuốc xong, vội nhảy xuống xe, một tay cầm đuốc, một tay xách hai chiếc bao bố, nách kẹp một con dao yếm.

Họ chạy theo ḅ, đắp lên lưng mỗi con ḅ một chiếc bao, xong họ chạy lúp-xúp theo xe, sát con ḅ phía ngoài, để tránh gai ở lề cỏ.

Bao nhiêu anh lính xung-phong đều làm có một công-việc, y hệt như nhau: họ dùng sống của con dao yếm mà gợt mỏng trên da ḅ, mỗi một nhát sống dao, họ gợt rớt hằng năm, bảy chục con ṃng, chúng nó bị đứt chơn, đứt ṿi, rơi xuống đường và sẽ chết hết, khi mặt trời mọc lên.

Nhưng lớp nầy bị gợt là lớp khác đáp xuống chiếm chỗ trống liền, v́ những con thất-nghiệp bay vù-vù trong không-khí, đen nghẹt như muỗi Cà-Mau.

Tiểu-đội yểm-trợ phải biết gợt nơi khác chớ nếu cứ bảo-vệ một bộ-phận nào của một con ḅ, một cái đùi chẳng hạn, th́ bộ-phận ấy được b́nh-yên thật đó, nhưng các bộ-phận khác lại phải chịu đựng quá mức, ḅ rống nghe mà sốt ruột lên.

Các anh đánh xe ḅ cũng buông dây, nhảy xuống tiếp tay với các anh „lính chiến“.  Họ cũng được vơ-trang bằng dao yếm, và mỗi người bảo-vệ một con ḅ.

Hai trăm năm mươi cây đuốc giơ lên cao, chờ đợi.

Ḅ có kinh-nghiệm, cũng biết được cái ǵ đang chờ đợi chúng và cả người lẫn ḅ nín thở, đợi chờ cái điều kinh-khủng sắp xảy ra.

Th́nh-ĺnh năm trăm cái miệng ấy kêu lên một lượt, một tiếng kêu vô-nghĩa, và ḅ, không bị kéo dây mũi, bỗng đứng lại chớ không đi nữa.

Rồi người ta nghe tiếng vù-vù như ong vỡ tổ, rồi th́ cả năm trăm con ḅ đều rống lên một lượt: khắp thân-thể chúng đen nghẹt ṃng, không c̣n thấy da ḅ nữa, trừ ở một nơi là lưng của chúng mà loài người đă mặc giáp che cho chúng được.

Loại ṃng, trời sanh cũng ngộ.  Chúng nó chê loài người nhỏ bé quá, ít máu hay sao không rơ, mà chúng chỉ mê ḅ thôi, chớ không rớ tới người.  Nếu chúng tấn-công cả loài người nữa th́ nghề kéo củi đành phải ngưng lại suốt mùa ṃng. 

Những người bảo-vệ ḅ nầy cho biết rằng đến một lúc kia trong đêm, họ buồn nôn quá sức, muốn bỏ cuộc mà trốn đi, v́ khi họ gợt những đợt ṃng sau, máu chảy linh-láng v́ mấy đợt sau đă đủ th́-giờ hút máu ḅ đến no bụng

Họ gợt, gợt, và gợt.  Ṃng sao mà nhiều như cát biển, lớp nầy bị diệt, lớp khác tràn tới trám ngay vào chỗ da vừa được giải-phóng.

Chiến-thuật „biển ṃng“ đêm nào cũng có vẻ thắng-thế cả, bởi loài người biết mỏi tay c̣n ṃng th́ không biết mỏi cánh.

Họ gợt, gợt, và gợt.

Dễ thường màu mặt đường không c̣n đỏ cái màu đá ong cũ nữa mà xám-xịt lớp xác ṃng rơi trên đó.  Thế mà người ta có cảm-giác như là không giết được con ṃng nào, bởi không-trung c̣n dầy đặc ṃng đói khát máu sanh-vật.

Họ gợt, ḅ rống lên, họ gợt và ḅ vẫn rống những tiếng kêu đau, nghe rất thê-thảm.

Th́nh-ĺnh nghe tiếng hô chạy từ trước ra sau:

-          Quất ḅ nhảy nè!

Đó là cái lịnh của ông Bảy đầu đàn, ông nầy là thủ-lănh của đoàn kéo củi, ông biết lúc nào ṃng đă chết bớt hơn phân nửa, và đó là lúc nên đi, bởi ḅ đă chịu đựng nổi rồi, chớ không lẽ cứ đứng yên một chỗ mà đánh giặc với ṃng cho tới sáng hay sao?

Nơi mỗi xe, một người thót lên xe, một người ở lại dưới đất.

Người thứ nh́ đă tới lúc khổ-sở rồi đây, v́ hắn phải chạy thật mau mới kịp ḅ, nhưng vừa chạy phải vừa làm việc, v́ tuy ṃng đă chết bớt rất nhiều, nhưng số c̣n sống-sót vẫn tiếp-tục tấn-công ḅ không ngớt.

Hơn một tiếng đồng-hồ sau, hai người phục-vụ một chiếc xe đă luân-phiên nhảy lên, nhảy xuống mấy lần, đạo binh ṃng phục-kích mới chịu rút lui cho.

Chúng không ngán sống dao nhưng rất sợ ban ngày, mà bấy giờ th́ trời đă gần rạng-đông rồi.

Tiểu-đoàn xung-phong bảo-vệ công-voa xe ḅ tắt đuốc, thót lên xe ngủ lại tức-khắc để dưỡng-sức, v́ đêm sau họ phải tái-chiến với ṃng nữa, suốt hai tuần-lễ chớ không phải ít, bởi ngày nào cũng có ṃng non nở ra, cũng có ṃng trẻ trưởng-thành, chớ giết một đạo-binh trong một đêm không tiêu-diệt được ṃng đâu.

Họ ngủ, và mấy tay đánh xe cũng ngủ, v́ họ đă tiến khá sâu vào rừng không c̣n sợ trộm nữa.

Ḅ sẽ tự-nhiên nhớ cúp mà ghé lại, và xe ngừng.  Thợ rừng trong cúp sẽ đánh thức họ dậy để chất củi lên xe.

 

Chú-thích của BBT:

Chà-rẹc: charette à bœufs : xe ḅ

Cúp : coupe d´une forêt : khoảnh rừng đốn