Hai người xuống tinh thần

                                                                  B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

Trưa đầu tháng Chạp.  Chỉ có tiếng lá tre xào-xạc với lại tiếng cu gù trên rừng.

Ông Sáu buồn ngủ lắm, nhưng không dám nhắm mắt.  Người Tây nói mùa mưa xứ ta ẩm, không-khí rất độc, nhưng người ḿnh lại sợ cái nắng khô tháng Chạp nhiều lắm.

Cái lạnh của gió Bấc h́nh như mang theo khí rừng trong nội-địa ra xóm làng, nên hễ ngủ trưa, cơ-thể buông trôi, không chống lại với chướng-khí ấy là ta rét ngay.  Rét đây không phải là lạnh đâu, rét là nói tắt hai tiếng sốt-rét ấy.

Nằm trên vơng, chơn tḥng xuống đất, ông đẩy cho vơng đưa kẽo-kẹt để tiếng vơng phụ-họa với hai loại tiếng hiếm-hoi nói trên, làm cho không-khí đỡ buồn tẻ.

Ông Sáu lại ngâm thơ, nói cho đúng ra là ông nói vè:

Đời phải đời thành-thị

Cuộc phải cuộc văn-minh

Không hiẻu sao, ông lại ngâm bài vè đó.  Giặc-giă liên-miên suốt hai mươi mấy năm trời rồi mà thành-thị cái khỉ-khô ǵ?  Ông Sáu đă chứng-kiến giai-đoạn người ḿnh nổi lên chống Pháp vào những năm 1941-42-43, đă chứng-kiến giai-đoạn Nhựt-Bổn bạo-hành, giai-đoạn ta tổng-khởi-nghĩa, giai-đoạn Pháp trở lại, giai-đoạn ta đánh nhau với ta và với Pháp, thật là … loạn.

Bà Sáu đi xúc cá ở các vũng khô trên rừng, về tới nơi, nghe chồng tỏ ra nhàn-hạ như vậy, nói mỉa:

-     Ứ hự!  Ông „nói“ thơ, tôi nghe sao mà giống hồi c̣n nhỏ quá!

-     À, bà, bà mới về hả ?

Tuổi-tác của hai vợ chồng đồng nhau, và cọng lại chỉ già trăm năm thôi.  Thế mà họ gọi nhau bằng ông, bằng bà và quả họ già thật.  Lao-lực nhiều và sợ-hăi thái quá, làm cho họ già trước tuổi đi.

Ông Sáu không nói ǵ v́ ông vừa giựt ḿnh.  Từ bốn mươi năm nay, ông không hề hát bài đó, và không hề nghe ai hát cả.  Mà khi không ông lại nhớ ra nó và hát lên.  Ông giựt ḿnh mà chợt thấy ông mơ cái thời ông nhỏ dại, mà bài vè nầy c̣n đuợc thịnh-hành, hát nó lên để ông ảo-tưởng rằng ḿnh đang sống vào thời đó.

-     Thuở tôi c̣n để bánh bèo, ai cũng hát bài vè đó hết, bà Sáu nói lại, sau khi đặt rổ cá xuống nền đất, những con cá nhỏ bằng ngón tay cái mà mẹ chúng nó lên rừng, sanh ra hôm mùa mưa, lúc nước đổ, dâng lên ngập đồng-bằng và cả rừng cao nữa, rồi về quê cũ là sông rạch, chúng nó v́ lẽ ǵ không rơ, không theo cha mẹ kịp, nên kẹt lại ở các ao, cũng trong rừng.

-     Ừ, tôi cũng nhớ như bà.  Tại hồi đó thái-b́nh.

-     Đâu có phải, bà căi.

-     Chớ tại cái ǵ ?

-     Tại họ vừa qua thời loạn.

Ông Sáu cười hả-hả mà rằng :

-     Th́ qua thời loạn là thái-b́nh chớ c̣n ǵ ?

-     Ừ, qua thời loạn là thái-b́nh.  Nhưng nếu thái-b́nh được một trăm năm, họ cứ hưởng thái-b́nh mà không dè rằng họ may-mắn, hưởng tự-nhiên như ḿnh ăn cơm vậy.  Nhưng người mới qua khỏi thời loạn năm mười năm th́ họ hát như vậy, v́ họ biết họ sướng mà được sống cảnh thái-b́nh.  Họ đă thấy cái khổ, có so-sánh nên biết.

-     Ừ, bà có lư.  Hồi đó, ông bà ḿnh vừa qua khỏi thời loạn, loạn Tây đánh ta, rồi th́ yên giặc, lại thêm trong nước làm ăn thạnh-vượng hơn trước, nên họ mới đặt ra bài vè ấy.  Tôi lớn lên là bài vè đă gần cũ rồi.

-     Chớ sao !

-     Hóa ra ông bà ḿnh sướng hơn ḿnh.

-     Cũng theo lớp chớ.  Lớp ông nội, ông cố thằng Nam th́ sướng, c̣n lớp ông sơ nó th́ khổ v́ Tây đánh ta vào thuở ông sơ thằng Nam hai mươi tuổi.

-     Té ra cảnh thanh-b́nh không có lâu, bà hả ? Ba đời người là hết thái-b́nh rồi.

-     Ừ, nhưng ba đời người cũng lâu lắm đó chớ ! Lâu là lâu bền sung-sướng ấy.  C̣n ba đời người loạn-lạc th́ lâu như là đời ông Bành-Tổ, cái nầy mới thật là lâu đa !

-     Bà nói, sao mà tôi thương nhớ thằng Nam quá.  Nếu nó c̣n sống th́ giờ cháu nội ḿnh đă lên năm, lên bảy.  Ba đời người đó, đời ta, đời nó, với lại đời của cháu nội ta.

-     Nó chết th́ nó yên thân.  Ta sống ta mới khổ.

Hai vợ chồng lại làm thinh nh́n ra ruộng.  Đó là một đám ruộng g̣, tự tay ông Sáu phá chồi để lập ra, khi hai vợ chồng chạy lên chốn đèo heo hút gió nầy.

Ông Sáu đă chừa lại hai bụi tre gai sau nhà lúc khai hoang, để có cảm-giác rằng ông c̣n ở làng, v́ bụi tre sau nhà, tạo không-khí làng mạc mạnh lắm.  Ông cột đôi ḅ của ông dưới gốc tre, bỏ rơm mà ông chở theo bằng xe ḅ, và hai ngày sau là nghe được mùi làng xóm liền, cái mùi mà rơm và phân ḅ, tẩm nước đái ḅ để xông lên.

Đám ruộng nầy đă được săn-sóc gần hai mươi năm rồi, mà nó vẫn không giúp hai vợ chồng no bụng, v́ đă bảo là ruộng g̣, tùy thuộc mưa nắng rất nhiều, năm nào mưa không thuận là lúa thất.

-     Gần Tết rồi, bà ơi !

-     Ừ, gần Tết rồi.

Hai vợ chồng già im lặng, nhưng cả hai đều nghĩ nhiều lắm.

Từ hai mươi năm nay, họ nhớ Tết ghê hồn, v́ họ không được ăn Tết lần nào hết.  Họ nghèo khổ quá, nhưng không phải v́ vậy mà không được ăn Tết đâu.  Hồi trước ở dưới làng, cũng có người nghèo, nhưng nghèo giàu ǵ cũng được ăn Tết cả.

Ăn Tết, không chỉ có bàn thờ đầy hoa quả, nhang đèn, nhà bếp đầy thức ăn là đủ.  Tết là không-khí, không-khí ấy gồm nhiều thứ lắm không kể cho xiết được, thứ thường, mà cả đến thứ thiêng-liêng nữa.

Ăn Tết trước hết là chuẩn-bị.  Mà phải chuẩn-bị mua sắm trong tinh-thần tranh-đua với láng-giềng cà, mới thú-vị.  Chẳng hạn năm nay họ gói mười đ̣n bánh tét bực trung, ta gói hai mươi đ̣n bánh tét thứ bự là ta sướng vô cùng.

Mà ở đây, tranh-đua với ai ?

Mấy tháng sau khi chạy lên định-cư ở đây, ông Sáu đă đi thám-hiểm một vùng rộng lớn quanh đây, ông gặp được rất nhiều người trong làng họ cũng làm y như ông.  Nhưng mỗi nhà cách nhau gần nửa ngày đường th́ c̣n tinh-thần làng xóm ǵ nữa!

Kế đến, ăn Tết là giẫy mả.  Đạo thờ cúng Ông Bà gồm tưởng nhớ, thờ cúng và giẫy mả ngày Thanh-Minh và ngày Tết, ông Sáu đă theo cha giẫy mả từ thuở ông lên bảy và cứ như vậy cho đến năm ông hăm tám, cha ông qua đời, ông đi giẫy một ḿnh tới ngày chạy giặc là năm ông băm lăm.

Ông đă gần-gũi tổ-tiên ông mỗi năm hai lần, nghe thương mến người dưới các nấm đất ở đầu làng lắm, mà đă hai mươi năm rồi, ông không được giẫy mả nữa.

Rốt cuộc, ăn Tết là tề-tựu đông đủ ḍng họ, bà con, cháu chắt, dưới một mái tranh cũng tốt, miễn là có sự tề-tựu ấy, nó tạo ấm-cúng không thể tưởng-tượng được.

Ông Sáu coi nhà thờ, các em của ông, có ra riêng, Tết cũng phải đưa con cháu họ về nhà thờ, mà từ ngày chạy giặc tới giờ, những người ấy không có nơi để mà về nữa.

Trên rừng, vài con tu-hú lẻ-tẻ kêu.

Ông Sáu, đôi mắt sáng lên như mừng gặp bạn, nói:

-     Lạ quá, bà hớ!  Bà có nhớ không, thuở ta c̣n thơ-dại, Tết sao mà tu-hú về nhiều lắm, c̣n bây giờ th́ ...

-     Ừ, chắc là giống tu-hú gần tuyệt rồi hay sao ấy.

-     Mà hổng biết sau mùa Tết, chúng nó đi sống ở đâu?

-     Nghe tu-hú kêu, tôi lại nhớ những công việc sửa-soạn ăn Tết.  Hồi c̣n ở dưới làng mùa nầy là mùa xay lúa, giă gạo đây!

-     Ừ, đàn ông xay, đàn bà giă, mà giă chày tư, ḥ hát suốt đêm, cả xóm đều vang dậy tiếng ḥ giă gạo, vui quá.

-     Chỉ tại ông!

-     Tại tôi làm sao?

-     Đă hai lần rồi, trong ṿng hai mươi năm nay, các ổng cho về, nhưng ông nhứt-định không về, bây giờ th́ không thể về nữa.

-     Th́ ḿnh phải hết ḷng với nhà nước chớ.

-     Chớ không phải tại ông phồng mũi lên khi được họ khen là gạo cội?  Thằng nào về, bị coi là không tích-cực, đứa nào ở lại như ta, là công-dân tốt số dách.

-     Tôi đâu có dè mà đánh giặc hoài trong suốt hai mươi năm.  Cứ nghe nói sáu tháng nữa là xong th́ tội ǵ lại không làm công-dân tốt mà chỉ phải chịu cực có sáu tháng thôi.

Ông Sáu nh́n đống xương ḅ ngoài sân, đống xương cũ, đă vàng khè.  Cặp ḅ của ông đă được bảy tuổi khi ông dẫn lên đây.  Rồi sau đó chúng nó chết già, ông không c̣n ai đỡ-đần tay chơn nữa, vất-vả không chỗ nói.  Ba đời người, mà cũng ba đời ḅ, nếu ông có tiền để mua ḅ thay thế.  Nhưng ông không có tiền.  Gần một phần tư thế-kỷ rồi, ông không thấy tiền, sống bằng sự đổi-chác, y như người trung-cổ, ông đổi khoai, đổi măng, để lấy hai vật cần thiết nhứt mà ông sản-xuất không được: muối và vải sồ.

Ḥ ... ơ ... đời Tây bó buộc, bày cuộc máy bay,

Giấy năm năm trở lại, kẻ lăn tay, người chụp h́nh

Ông Sáu lại ḥ, ḥ xong câu ḥ xay lúa trên đây, ông b́nh:

-     Nhớ thuở xưa quá!

-     Đă kêu “bó buộc” mà lại nhớ!

-     Tôi nghiệm ra th́ người làm câu ḥ nói sai ... Tây lập sân máy bay tại Biên-Ḥa, thuở ấy bằng tiền nào đó không biết, nhưng nó trùng với cái thuế mới là thuế thân, đóng thuế để lấy giấy năm năm rồi người ḿnh tưởng là lấy thuế thân để làm sân bay.

Nhưng tôi nhớ thuở xưa không v́ sự bó buộc hay không bó buộc, tôi nhớ v́ những cái khác.  Có lẽ nhớ v́ sự thạnh-vượng, sung-túc, sự an-ổn làm ăn.

-     Tinh-thần của ông xuống ghê lắm đó, nha!

-     C̣n tinh-thần của bà th́ lên ghê lắm.  Bộ bà tưởng tôi không hay bà khóc hay sao?

-     Tôi khóc thầm, chớ tôi có nói với ai đâu.

-     Khóc thầm cũng là xuống rồi đó, đâu có cần phải nói với ai.  Khóc thầm bà c̣n nguy-hiểm hơn tôi, tôi nói ra ngoài là hả hơi được, c̣n bà, bà để trong bụng, bà mưu-toan.

-     Tôi khóc cái kiếp không may của đời tôi, đời ông thôi, chớ tôi có đổ lỗi cho ai đâu mà ông nói là nguy-hiểm.

-     Bà thèm an-lạc lắm hả?

-     Bộ ông không thèm sao mà c̣n hỏi?

-     Nè, tôi hỏi thật, bà thèm lắm hôn nè?

-     Tôi nhớ làng, nhớ Tết ít lắm cũng bằng ông, tôi thích được mần ăn yên-ổn, thích được có cơm ăn no, có bánh ăn chơi, ít lắm cũng bằng người khác.  Hai mươi năm rồi, tôi không được ăn bánh xèo.

-     Bà phải hy-sinh chớ.

-     Th́ tôi đă hy-sinh, nhưng mà lâu quá, hy-sinh cả một đời.

-     Thằng C̣n nó nói: nếu phải hy-sinh hai ba đời cũng vẫn hy-sinh kia mà!

-     Nó nói vậy, tôi hay vậy, chớ thật, tôi nản chí lắm rồi.

C̣n là cháu của bà Sáu kêu bằng d́.  C̣n làm cán-bộ trong tổ-chức Kinh-tế tự-túc mà thỉnh-thoảng có ghé qua đây.

-     Bà không hiểu ǵ hết.

-     Chớ bộ ông hiểu hơn tôi!  Th́ nó nói sao, ông hay vậy, y như tôi chớ hơn ǵ.  Và ông cũng thích thái-b́nh, thích hưởng cuộc đời như tôi, chớ hơn ǵ tôi.

-     Ai lại không thích yên-ổn mần ăn.

-     Như vậy sao ông c̣n nói?

-     Nè ...

-     Ǵ đó?

Ông Sáu lặng thinh, do-dự.  Bà cũng làm thinh ngồi nhai trầu, nh́n nọc trầu ngoài sân, nọc trầu mà bà phải đi lấy nước suối cách đây hơn mười dăm hú để tưới, không thôi nó chết mất và bà phải chết ghiền.  C̣n cau th́ không trồng được, v́ đất g̣ xấu lắm, bà ăn trầu với vài thứ trái rừng và rễ cây rừng.

-     Bà lại xít gần tôi, tôi nói cái nầy cho mà nghe.

-     Hừ, quỉ!  Già rồi!  Hổng sợ người ta cười cho!

Ông Sáu cười ha-hả mà rằng:

-     Bộ bà tưởng ....

Tuy nói vậy, bà Sáu cũng ḍm quanh, ngó quẩn bên ngoài.  Cả một tuần trăng, chưa chắc có người đi qua đây, vậy mà bà cứ lo.  Thuở bà lên đây, bà đă thấm nhuần phong-hóa của dân-tộc rồi, đời sống vợ chồng là phải có vậy thôi, mà ban đêm tăm-tối kia, chớ c̣n vợ chồng mà thân-mật với nhau giữa ban ngày là hư-hèn.

Yên-ḷng quả thật vùng nầy đang hoang-vu, bà đứng dậy, bước lại vơng của ông rồi ngồi xuống.  Ông cũng ngồi dậy, kê miệng sát tai bà mà nói th́-thầm rất lâu.

Nghe xong bà lắc đầu.

-     Tôi sợ lắm!

-     Hổng có sao mà!  Cháu bà nó là cán-bộ.

-     Ông cũng biết là chính nó c̣n khó hơn các ông kia nữa, với lại nó đâu có quyền về chuyện đó.

-     Tôi nói hổng sao, v́ nào ai biết đâu!  Hổng chừng hai, ba năm nữa ḿnh theo ông theo bà, v́ ḿnh yếu lắm rồi, tôi mới trên năm mươi, bà chưa chẳn năm mươi, mà ta đă già quá v́ thiếu-thốn, ừ hổng chừng ḿnh sẽ theo ông theo bà, bà không muốn ăn Tết vài năm sao?

*

*       *

Ông Sáu thức dậy hồi mặt trời lặn v́ ông buồn quá, ngủ suốt ngày nay, từ lúc ông bị bắt, hồi bảy giờ sáng.

Ông nghe tiếng người lào-rào khi ông chưa mở mắt, và một người cười nói:

-     Ông già nầy ổng khôn trật đời, nhưng ổng hở tới hai chỗ, nên thằng C̣n nó báo-cáo lên, tôi mới biết mà cho người coi chừng ổng.

-     Ổng hở chỗ nào? một người khác hỏi.

-     Ổng giẫy mả cho thằng con trai ổng, thằng Nam, thằng chết trên nầy và được chôn sau nhà ổng mà giẫy vào đầu tháng Chạp.  Ai lại giẫy mả sớm như vậy!

Hôm thằng C̣n tới thâu thuế, ổng biểu cứ lấy hết bồ.  Năm nào, nhứt là vợ chồng ông    già nầy, cũng đều kêu thuế nặng, họ bớt một thêm hai, họ kỳ-kèo, vậy mà mùa nầy ổng lại cho vét bồ, mà một cách vui ḷng chớ không phải là nói lẫy, th́ có phải là vợ chồng ổng mưu-toan thanh-toán hết để mà đi hay không?

-     Nhưng c̣n bả đâu?

-     Bả đi lọt rồi.  Bả gánh khoai, nói là đi bán, nhưng chắc dưới khoai có chôn áo quần của hai vợ chồng.

Ông Sáu dược gọi dậy để ăn cơm tối.  Ông chỉ trợn-trạo nuốt qua-loa thôi, v́ ông thấy từ đây, ông c̣n khổ hơn hai mươi năm qua nữa, nếu họ không giết ông.

Ông không rơ tội ông bao to, đối với họ, và nhẫn-nại chịu số-phận như hằng triệu dân quê ta đă chịu số-phận từ mấy ngàn đời rồi.

Ông Sáu được hỏi cung ngay đêm đó.

-     Ông có nhận tội hay không nè?

-     Tôi nhận tội.

Ông Sáu đáp cho xong v́ ông quen đi ngủ hồi bảy giờ rưỡi, từ nhỏ tới lớn, mà giờ nầy c̣n phải ngồi đây, ông cứ ngáp măi.  Ông quyết nhận tất cả, rồi ra sao th́ ra, mặc dầu chưa biết ḿnh bị kêu án thế nào.

-     Tốt lắm.  Người hỏi cung khen như vậy.  Xem ra th́ ông không ngoan-cố.  Vậy ông có ǵ khiếu-nại hay không?

-     Dạ không.  Nhưng các ông hỏi th́ tôi cũng xin nói, là tôi nhớ có mấy lần, các ông đă chánh-thức cho dân về, nên tôi cứ ngỡ về không phạm tội.

-     Người ta về, có xin phép, lại có sự ưng-thuận của nhà nước.  C̣n ông th́ trốn ông đi, có khác chớ.

-     Nhưng trốn hay cho phép đều cũng là về.

-     Nhưng ông trốn là ông có mưu-định ǵ bí-mật, nhà nước biết sao được.

-     Tôi không có mưu-định cái ǵ hết.  Tôi nhớ làng quá.

-     Ông đă được tiếng là gạo cội, giờ ông nói nhớ làng, thật khó tin.

-     Tôi xin thề.

-     Khỏi.

-     Tôi nhớ làng thật-t́nh.  Tôi chỉ gạo cội, năm năm, mười năm thôi, gạo cội lâu quá, tôi gạo cội không được.

-     Buổi đầu không ai bắt ép ông làm gạo cội.  Giờ th́ đă trễ lắm rồi.  Làng bây giờ không c̣n như làng của mấy năm trước.  Họ đă biến làng ra ấp tân-sinh, rào lại, ông về đó, tinh-thần ông sẽ cách-biệt với Cách-mạng, ông biết chưa?

-     Tôi không biết điều đó.  Tôi già rồi, muốn an-hưởng vài năm trước khi theo ông theo bà vậy thôi.

-     An-hưởng.  An-hưởng làm sao được trong khi thiên-hạ c̣n lầm-than?

-     Th́ mấy ông c̣n trẻ, làm ǵ cứ làm.  Tôi già rồi.

-     Ông già rồi, th́ ông khỏi đi bộ-đội, khỏi di hàng, khỏi công-tác nầy nọ, ông chỉ sản-xuất thôi, c̣n kêu-ca ǵ?

-     Tôi không có sống từ hai mươi mấy năm nay.

-     Sống là thế nào, theo ông?

-     Tôi hiểu là sống, phải làm việc để trả nợ áo cơm cho đoàn-thể, tôi thuộc bài lắm.  Nhưng tôi cũng thích hưởng cuộc đời chút ít, một chút xíu thôi.

-     Ông nầy bần-cố-nông, lại ưa hưởng-thụ như là tư-sản.  Nè, rán thêm vài tháng nữa, rồi mặc sức mà an-hưởng.

-     Tôi rán đă hai mươi năm rồi, các ông ơi!  Cách-mạng nói đánh Tây xong, độc-lập rồi th́ an-hưởng.  Tây đi mất đất mà tôi an-hưởng ǵ đâu?

-     Ông nầy thật là ghiền an-hưởng.  Nè độc-lập rồi chưa đủ, nghe chưa.  Mà ông đừng nói chuyện an-hưởng nữa.  Đời cháu, đời chắt ta an-hưởng cũng chưa muộn.

Thôi được, tối mai, sẽ lấy cung tiếp.

Ông Sáu vừa được đưa vào buồng trong.  Vách buồng là trĩ long-mốt, có búa mà đẽo cũng chẳng thấm-tháp vào đâu.  Vả ông cũng chẳng tính chuyện vượt ngục làm ǵ.  Ông không thiết sống cho lắm.  Nhưng kẻ có cái ǵ, tối-thiểu lắm cũng được, mới là ham sống.  Ông biết bám níu vào cái ǵ để quí cuộc đời bây giờ?

Đêm nay là đêm rằm tháng Chạp.  Ông nằm trên chơng tre, hồi-tưởng lại nếp sống ở làng thời thái-b́nh cho vui vậy thôi.  Ông nhớ những tiếng giă gạo chày tư và nghe như những tiếng chày nhịp miệng cối kênh kênh đâu đây.

Ông h́nh-dung những cô gái  mười bảy, mười tám, cứ bốn cô một cối, họ giă đều tay, cô nào cũng có lúc khum ḿnh đưa đầu vào cối cả, vậy mà không cô nào bị chày mỗ lên đầu, mặc dầu bốn cái chày cứ luân-phiên nhau mà mỗ xuống, không ngớt phút nào cả.

Trong khi đó th́ ông ngồi uống trà, ngắm hai gốc me già mà ông uốn thành kiểng trong hai cái ảng ngoài sân.  Ông chơi kiểng, sớm lắm, mới ra khỏi tuổi ba mươi, ông đă chơi cái tṛ ông lăo ấy, mong đến tuổi già th́ ông đă có kiểng rồi.  Khỏi phải bắt đầu trễ, muộn như các ông già khác.

Giờ, chắc hai gốc me ấy không c̣n.

Bỗng ông vụt cười khan lên, nếu có ai ŕnh ông chắc họ sanh-nghi lắm.  Ông cười v́ ông bỗng thấy sự an-hưởng của ông cũng chẳng có ǵ.  Tức cười cho ḿnh, nhưng ông Sáu không hối-hận.  Ông đă nói rằng một chút xíu thôi kia mà!  Ông vô-lư quá, ông dại quá, ông dám đánh đổi cái kiếp bần-cố-nông của ông để lấy một chút xíu đó, chớ không ham tranh-đấu để hết số-phận bần-cố-nông.

Có lẽ ông thiển-cận, hết số bần-cố-nông xa quá, mà ông th́ thèm ngay cái chút xíu ấy, nó có được bây giờ, nếu khi sáng ông đi lọt.

Bỗng ông nghe ngoài kia, tiếng hai người nói với nhau, giọng người hỏi cung và một người lạ.

-     Bây giờ tính sao, về ông già nầy?

-     Rất dễ giải-quyết.  Đừng cho y đi đâu vài bữa, vợ y lót-tót về.

-     Nhưng xử thế nào?

-     Để rồi giáo-dục y lại, chẳng bắt tội làm ǵ.

Ông Sáu rầu quá.

Ông đă được giáo-dục rồi, nhưng tại ông không nuốt trôi, và cứ ham an-hưởng thái-b́nh mần ăn yên-ổn, chớ có phải chưa được học-tập ǵ hết đâu.

Ông rất ngán học-tập nữa, cũng như ngán ăn món khó tiêu đối với ông.

Từ sáng tới giờ, ông đinh-ninh rằng ông phải chết nên ông nghe nhẹ ghê đi!

Ông Sáu lại vụt cười khan lên, không phải khoái-chí v́ khỏi chết: ông thấy sao mà ông dị-kỳ quá, hơi thất-vọng v́ khỏi chết, hơi sợ sống trong cảnh chiến-tranh.