Truyện ngắn HƯƠNG QUÊ

 

Gạo nhà nghèo

 

B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Ông hội-đồng Cường và có hai và cơm là buông đũa liền rồi ngồi nh́n mâm cơm đầy ắp những thức ăn mắc tiền mà thở dài.

Ông hội-đồng (đây là thứ hội-đồng địa-hạt, tức hội-đồng hàng-tỉnh thời Pháp-thuộc, và mặc dầu những ông nghị địa-phương nầy đă hết sứ-mạng từ năm 1945, song lối gọi vẫn c̣n), có tật hễ tới tháng chín ta là nuốt không trôi những bữa ăn hằng ngày, từ bao nhiêu năm rồi.

Đó là tháng giáp-hạt, lúa cũ đă cạn trong bồ, c̣n lúa mới th́ chưa gặt.  Lúa cũ cho một thứ gạo không c̣n chất dẽo nào hết, cho dẫu là gạo mắc tiền nhứt nước, hột cơm nhai nghe xam-xảm, không ngon lành chút nào, và những người ăn yếu và khó tánh, luôn luôn gần như là phải nhịn đói suốt tháng giáp-hạt vậy.

Bà hội-đồng lo-lắng nói:

 

-          Ông ráng ăn chừng một chén kẻo đói.

-          Khó nuốt lắm, bà ơi!  Bà biểu trẻ nó nấu cho tôi vài chén cháo, tối, tôi ăn với đường.

Rồi ông hội-đồng ăn bánh, uống nước mà trừ bữa.

Bụng đói khó ngủ quá.  Cháo lỏng cũng không giúp ông hội-đồng vững dạ chút nào nên chi ông trằn-trọc, lăn trở hoài, và qua những giờ thao-thức suốt đêm nay, ông nghĩ đến toàn chuyện ăn, chuyện gạo, và nhờ nghĩ nhiều đến chuyện ấy nên ông nhớ ra một điều nó làm ông lạc-quan vô-cùng.

Sáng ra, ông hội-đồng thức dậy hồi gà gáy, sửa-soạn rồi ra đi ngay, bỏ bữa cơm điểm-tâm.  B́nh-minh chưa ló dạng nên ông hội-đồng lợi dụng ánh-sáng của những v́ sao chưa tắt để đi trên những bờ ruộng hẹp.  Ông bước đi thoăn-thoắt như sợ trễ đ̣, trễ xe ǵ ấy, và chẳng bao lâu, ông tới trước một nếp nhà tranh mà bên trong, ở chái nhà bên tả, có người nhúm lửa, có lẽ để nấu cơm.

Đó là nhà tư Dần, người tá-điền của ông hội-đồng.

Làng nầy là làng an-ninh, ruộng của ông hội-đồng lại ở ngay sau làng, nhưng ông tiếp-tục cho tá-điền khai-thác y như ngày xưa, hồi tiền-chiến, bởi ông đă làm giàu từ lâu, không làm ruộng trực-tiếp, vả ông cũng đă có tuổi rồi.

Chó sủa vang lên và ông hội-đồng gọi:

-     Tư ơi, mở cửa cho tao vô coi.

Nhà đă thức rồi, nhưng họ không lên tiếng ngay, có lẽ họ đang kinh-ngạc trước tiếng gọi cửa, thoạt-tiên hơi lạ nhưng lúc họ nhận ra được đó là giọng của ông hội-đồng, họ càng sợ-hăi hơn: một ông chủ ruộng giàu có và tuổi-tác hẳn phải có lư-do thật quan-trọng mới lặn-lội vô ruộng vào giờ nầy.

-          Tư ơi!

-          Dạ!

-          Thức rồi, sao không lên tiếng, sao không mở cửa?

-          Dạ cháu mở đây.

 

Mấy mươi giây sau, ông hội-đồng đă ngồi trước chén trà sớm mà nông-dân ta quen pha trà từ lâu đời rồi, nhờ họ khá-giả chớ không quá „bần-cố-nông“ nên mới dám xài rồi ghiền món xa-xí-phẩm nầy.

Vợ chồng, con cái của tư Dần cứ c̣n kinh-ngạc, lo-âu th́ ông hội-đồng Cường nói:

-          Vợ chồng thằng Tư mầy để lại cho tao nửa giạ gạo nanh-chồn coi!

Im-lặng.  Lâu lắm, vợ tư Dần mới trả lời:

-          Thưa ông hội-đồng, cháu đâu có gạo nanh-chồn.

Ông hội-đồng Cường cười ha-hả rồi nói lớn lên một ḿnh:

-          Không có!  Lạ quá!  Nhưng không có th́ thôi.  Vậy cho tao ăn một bữa cơm đi.

-          Dạ nhưng ăn cực lắm!

-          Ăn với muối, tao ăn cũng ngon nữa mà!

Gạo nanh-chồn là một loại gạo nhỏ hột, gạo giống hệt răng con chồn, nhứt là răng nanh.  Loại gạo nầy rất ngon cơm, nhiều người cho là ngon cơm nhứt trong các thứ gạo ngon ở miền Nam.

Gạo nanh-chồn lại có được cái ưu-điểm nầy mà các gạo khác không có.  Là đầu mùa, gạo không quá dẽo để cho người ăn phải ngán mà cuối mùa, gạo vẫn không quá lạt, quá khô đến khó nuốt trôi.  Chất nhựa bọc hột gạo, nơi gạo nanh-chồn, rất là ít, nhưng nó lại giữ được măi-măi chất nhựa ấy, luôn cả trong tháng giáp-hạt nữa.

Những người thường đi đó, đi đây, ai cũng quả-quyết rằng gạo Nhựt-Bổn rất ngon.  Ấy, người Nhựt làm ruộng ở các triền núi, mà lúa trồng ở đất khô như vậy, luôn-luôn cho gạo ngon.  Theo định-luật đó th́ gạo nanh-chồn đă ngon, mà trồng ở ruộng khô của các tỉnh Bà-Rịa, Biên-Ḥa, như ruộng của hội-đồng Cường, gạo nanh-chồn ruộng ông c̣n ngon hơn gạo nanh-chồn của các tỉnh nê-địa nhiều lắm.

Ông hội-đồng hỏi vợ tư Dần:

-     Đă nấu cơm chưa?

-     Dạ, cháu mới lấy gạo định vo th́ nghe ông kêu cửa.

-     Vậy đi vo gạo liền đi, tao đói lắm.

Ông hội-đồng nói chuyện con cà con kê với tư Dần để đợi cơm và độ hơn nửa tiếng đồng-hồ sau, trời rựng sáng là vợ người tá-điền dọn cơm lên, mâm cơm chỉ vỏn-vẹn có một miếng mắm xổi bằng bàn tay.  Nhưng ông hội-đồng biết là dưới bếp, mẹ con của chị tá-điền của ông có lẽ c̣n được ít thức ăn hơn.

Cơm nóng lên hơi nghi-ngút, nhưng ông hội-đồng lại kêu vói xuống bếp mà nói với vợ tư Dần:

-          Tư ơi!

-          Dạ!

-          Tao ưa ăn cơm nguội hè.  Cho tao một chén cơm nguội coi.

Ở thôn-quê, mặc dầu nghèo, người dân luôn-luôn nấu cơm dư ăn chớ không nấu vừa khít nút như ở chợ, v́ họ thường có khách th́nh-ĺnh mà khách của họ th́ rất dễ mời ăn cơm.  Chính họ cũng quí khách, luôn-luôn mời khách ăn cơm và rất vui mà được khách nhận lời.

Đó là phong-tục ngàn năm, hay ít lắm cũng mấy trăm năm.  Và ít ra cũng ở miền Nam không thiếu gạo nầy.  Thế nên vợ tư Dần không thể chối rằng nhà không có cơm nguội , chỗ cơm nấu dư ngày hôm qua, cho một người khách không đến, và sáng ra, giờ đây, họ hấp lại để bổ-túc cho nồi cơm mới, nấu ít hơn một chút, v́ trong bữa điểm-tâm không bao giờ có khách mà phải nấu dư như các bữa ăn khác.

Chị tư không thể chối, nhưng cứ làm thinh và bất-động, v́ chị bối-rối lắm, không biết liệu thế nào để ra khỏi ngơ bí.

Anh tư Dần, ngồi trước mâm cơm với ông chủ ruộng kỳ-dị, cũng bối-rối vô-cùng.  Anh đóí lắm, thấy cơm ngon lành lắm, cầm đũa lên nhưng c̣n đợi khách.  Vậy mà ông khách vừa nh́n qua chén cơm rồi buông đũa ngay, đ̣i cơm nguội cho vợ chồng anh khó xử.

Ông hội-đồng giục:

-          Đại mau đi chớ!  Tao đói lắm đây.

Quả ông hội-đồng đói thật, đói y như những tá-điền mạnh-khỏe và mạnh ăn hơn ông.  Nhưng ông giục không phải v́ ông đói, mà để ngăn vợ người tá-điền kịp t́m mưu.

-          Không bưng cơm nguội lên, tao xuống bếp, tao lục nồi cho mà coi.

Vợ tư Dần hoảng-hốt, vội bới một chén cơm ở nồi chiều hôm qua, vừa được hấp lại.  Bấy giờ vợ chồng người tá-điền nầy có lẽ đă hiểu lư-do sự đ̣i hỏi dị-kỳ của ông chủ ruộng rồi.  Đây là cái mẹo tài-t́nh để bắt quả-tang vợ chồng anh có gạo nanh-chồn trong nhà.

Cá, thịt, khô, mắm ǵ cũng mắc tiền hơn gạo hết, nên những người tá-điền của ta, họ trồng một mớ lúa nanh-chồn vừa đủ cho gia-đ́nh họ ăn, rồi giấu mà ăn, ai nài, mua bao nhiêu tiền một giạ họ cũng nhứt-định từ-chối, hóa ra nhà nghèo lại ăn gạo ngon hơn nhà giàu, sợ thiếu gạo rồi nuốt cơm gạo thường không vô, bởi bữa cơm của họ không được đồ ăn ngon trợ-lực cho, như bữa cơm nhà giàu, họ cần, dầu phải ăn cơm với muối, mà cũng ngon được như thường.

Cái tục-lệ nầy tạo ra một t́nh-trạng rất lạ-lùng, nếu không muốn nói là kỳ-dị ở miền Nam là chỉ có nhà nghèo, nói rơ hơn, chỉ có tá-điền mới có được gạo ngon nhứt hạng để ăn, c̣n bao nhiêu giới khác, kể cả giới phú-hộ, đành phải tạm bằng ḷng với gạo cũng gọi là ngon nhứt hạng, mà thật ra chỉ ngon … nh́ hạng mà thôi.

Khi vợ tư Dần đặt chén cơm trước mặt ông chủ ruộng th́ ông ta cười ha-hả mà rằng:

-          Vợ chồng bây không có gạo nanh-chồn, vậy mà cơm nguội nầy lại là cơm gạo nanh-chồn!  C̣n chối nữa hết?

Vợ chồng tư Dần cũng bật cười.

Khi năy, lúc khách đ̣i ăn cơm, vợ tư Dần vội cất chỗ gạo nanh-chồn đă lấy ra, rồi đem gạo thường đi vo nấu.  Ông hội-đồng đoán biết thế nên quyết đ̣i cho được cơm nguội ông mới nghe cho.

Ông hội-đồng Cường cầm đũa lên ngay.  Từ hơn một tháng nay, chưa bao giờ ông tham ăn như thế nầy.  Tới bữa, nghe mời ăn cơm, ông đâm sợ khi cái chất gạo cũ hết nhựa của tháng giáp-hạt nhắc ông cái vị của những chén cơm ngán-ngẩm, xam-xảm, rất khó nuốt.

Dưới nhà bếp, mẹ con chị Dần đành phải ăn cơm nóng hổi vậy, tuy cơm mới nấu xốp lắm, nhưng quả thật là nuốt khó trôi, v́ chị không có ǵ để nuốt chung với cơm, trừ chút đỉnh nước cá kho cũ.

Cơm nguội c̣n được ba chén rưỡi tất cả, nhưng chị không đoán được tỳ-lực của ông chủ ruộng là bao nhiêu, nên chị phải để dành hết cho ông ấy.  Tuy-nhiên sự hy-sinh nho-nhỏ sáng hôm nay, thật là đáng kể, mối sầu lớn của chị tư Dần là phải bán gạo nanh-chồn cho ông hội-đồng Cường.

Ông đại-địa-chủ nầy trả công, trả của rất hậu, chị đă không lổ-lả mà c̣n được lời, nhưng tiền lời không đủ mua thức ăn mắc tiền để hổ-trợ cho gạo dở đâu.  Gia-đ́nh chị sẽ khó nuốt cơm như gia-đ́nh của bất-kỳ ông nhà giàu nào, cho tới mùa gặt mới, nghĩa là cho tới tháng sau, bởi ông hội-đồng Cường mua được một giạ, sẽ bắt ép vợ chồng chị bán thêm giạ thứ nh́, giạ thứ ba, số gạo lót bồ c̣n được bao nhiêu, ông ấy sẽ xúc hết.

Trên nầy, ông hội-dồng đă được chén cơm thứ nh́, và ăn xong nửa chén, tức là đă ăn được chén rưỡi rồi, ông đă bớt đói dữ, hạ đũa xuống hỏi người tá-điền.

-          Tại sao mầy không cấy giống nanh-chồn hết bốn mẫu ruộng nầy, cấy ít làm ǵ rồi phải giấu đút, ăn lén, ăn lút, coi kỳ-cục quá như vậy nè?

-          Dạ, tại lúa nanh-chồn thất gạo lắm, một mẫu gặt không tới một trăm giạ, lấy lúa đâu để đong lúa ruộng cho ông, lấy lúa đâu để ăn?

-          Nhưng mà gạo nanh-chồn lại mắc tiền bằng hai gạo thường.

-          Dạ!

-          Dạ cái con khỉ mốc.  Tao nói như vậy mầy phải kết-luận để thấy sự sai-lầm của mầy, chớ tiếng”dạ” của mầy có nghĩa ǵ đâu!

-          Dạ!

-          Lại dạ nữa!  Mầy không thấy ǵ hay sao?

-          Dạ thưa không!

-          Theo chỗ mầy nói th́ lúa nanh-chồn thất gạo gần tới phân nửa, nhưng giá nó lại gấp bằng hai giá gạo thường th́ mầy có mất ǵ đâu.

-          Dạ.

-          Cái thằng nầy thật là chí ngu, chí ngốc, cứ “dạ” hoài.  Kết-luận đi chớ!  Mầy kết-luận tao nghe thử, để nếu cần th́ thảo-luận thêm ǵ ra lẽ.

-          Dạ.

-          Trời ơi, ngó xuống mà coi.  Nầy nha, mầy gặt được mười giạ lúa thường, bán được ba ngàn.  Nhưng mầy gặt được bảy giạ lúa nanh-chồn, bán cũng cứ được ba ngàn như thường.  Có thấy hay không?

-          Dạ, nhưng cháu đâu có bán.  Cháu phải trả cho ông bằng lúa chớ!

-          À, nói vậy th́ tỷ-dụ tao bằng ḷng lấy phân nửa, nếu mầy trả bằng lúa nanh-chồn, mầy sẽ cấy toàn nanh-chồn hay không nè?

Tư Dần cứ làm thinh hoài, khiến ông hội-đồng Cường phải kêu trời lần nữa, rồi lại cầm đũa trở lên để ăn tiếp.  Ông tức ḿnh cái thằng ngu, và ông tự hỏi không biết nó c̣n nghi-ngờ, lo-sợ cái ǵ mà không nhận đề-nghị của ông.  Bài toán rất rơ-ràng, minh-bạch, và được giải-lư rất ổn-thỏa, có những con số cụ-thể hẳn-ḥi, không làm sao mà không hiểu, và hiểu xong, không làm sao mà c̣n do-dự được nữa, ông sẽ hăm-dọa lấy ruộng lại, sau mùa lúa nầy, có thế mới bắt-buộc nó phải nhận điều-kiện trao đổi rất công-b́nh của ông: nó mất gần phân nửa lúa gặt, nhưng chủ ruộng cũng mất phân nửa lúa địa-tô, nghĩa là nó không mất một hột nào hết.

Ông hội-đồng ăn róc nồi cơm nguội, uống nước, hút thuốc, đoạn thi-hành mưu thứ nh́:

-          Thôi, trưa nay vác ra cho tao một cà-ṛn gạo.  Mà tao báo trước cho mầy biết là gặt xong, tao lấy ruộng lại, để cho thằng nào bằng ḷng cấy bằng giống nanh-chồn mướn mà làm.

-          Dạ.

Ông hội-đồng Cường há miệng, trố mắt mà nh́n anh tá-điền của ông.  Hắn tỉnh-bơ không lo-sợ, không buồn-rầu trước lời hăm-dọa của ông.  Ông hỏi:

-          Ruộng của tao là ruộng đầu vườn, thuộc nhứt-đẳng-điền, mầy không ưa mướn hay sao?

-          Thưa, cháu ưa lắm chớ.

-          Ủa, sao mầy sẵn ḷng để tao cho kẻ khác mướn?

-          Dạ, cháu nghĩ không có ai mà chịu mướn theo điều-kiện của ông đâu.

-          Sao lạ vậy?

-          Cháu cũng không biết tại sao, mà nó như vậy đó.

Ông hội-đồng Cường tức ḿnh, xách nón đi liền, bụng bảo dạ rằng nhứt-định ông sẽ lấy ruộng lại, cho thằng kỳ-khôi nầy biết tay.

Về tới nhà, ông vẫn c̣n ấm-ách kể chuyện lại cho bà nghe, và cho bà biết luôn cả quyết-định của ông.  Bà nghe xong, cười ngất mà rằng:

-          Thằng đó nó nói đúng: ông lấy ruộng lại cũng rồi phải bỏ ruộng cho tranh nó mọc, chớ không thằng nào khác dám vổ ngực mà nhận điều-kiện của ông đâu.

-          Bà cũng luận-điệu theo cái thằng cố-ĺ đó nữa, hả?

-          Nó nói đúng th́ phải kể tới lời của nó chớ!  Nếu có tá-điền bằng ḷng cấy giống nanh-chồn th́ nhà giàu đă được ăn gạo nanh-chồn và có đâu mà ông phải nhịn đói.

Ông càng tức hơn, xẳng giọng hỏi:

-          Sao chúng nó lại ngốc dữ vậy, và nhứt là sao bà lại về phe với họ chớ?

-          Chúng nó khôn lắm chớ không phải ngốc đâu.  Nè, đong lúa địa-tô xong rồi th́ lúa, chúng nó phân ra làm hai: phân nửa để ăn, phân nửa để bán, hầu lấy tiền mua vải, mua mắm và c̣n dư chút đỉnh th́ tiêu-xài vào những khoản khác nữa.  Nhưng ở rẫy có được mấy ông nhà giàu mua nổi gạo nanh-chồn?  C̣n chở đi Sàig̣n chúng nó biết đường đâu mà chở?  Như vậy có phải là chúng nó sẽ bí về số lúa cần biến ra thành tiền hay không nè?

Ông hội-đồng Cường gục-gặc đầu rồi hỏi bà:

-          Bà nói hữu-lư.  Nhưng sao nó không cắt-nghĩa cho tôi nghe?

-          Là tại nó ngu, biết mà không cắt-nghĩa rơ-ràng được như tôi, với cũng tại cái chuyện bí-mật nầy nữa .....

-          Chuyện ǵ?

-          Năm nào nó cũng khóc-lóc than thất mùa để đong thiếu ta vài ba chục giạ.  Như vậy số lúa của nó nhiều hơn, bởi đâu có thất mùa, nó ăn gian, giấu đi ấy chớ, và nó sẽ càng bí hơn, nếu đó là lúa nanh-chồn bán mắc, người ở đây mua không nổi, c̣n bán rẻ th́ sẽ thiệt-tḥi nhiều bởi đă nói là lúa nanh-chồn thất gạo lắm mà!

Ông hội-đồng Cường cười ha-hả rồi nói đùa:

-          Chỉ c̣n nước tôi đi làm tá-điền cho .... bà, để chắc có gạo ngon mà ăn.

 

 

 

Chú-thích của BBT:

Giáp-hạt: thời-kỳ lúa cũ ăn đă hết mà lúa mới chưa chín.

Nê-địa: đất bùn

Tỳ-lực: ở đây có nghĩa là sức ăn