Truyện ngắn HƯƠNG QUÊ

 

Cây vông nem

 

B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Ngày mà giá sanh-hoạt th́nh-ĺnh nhảy vọt lên, thầy Thế nghĩ ngay đến người d́ ruột của thầy trong Xóm Gà.

Không, thầy không phải là một đứa cháu chí-hiếu lắm đâu, mặc dầu thầy đă trợ-cấp cho d́ mỗi tháng một ngàn đồng bạc.

Bà d́ ấy là em ruột của mẹ thầy, d́ có một người con gái độc-nhứt, nhưng cô ấy tay cán giá nên không lấy chồng được, ở nhà nuôi mẹ với đồng tiền lời mà cô ấy kiếm được trong một thứ thủ-công-nghệ hạng bét: chiên khoai lang, rắc đường cát lên để bán cho trẻ con trong xóm.

Thầy Thế nghĩ tới d́ thầy trước hết mọi người, trước hơn cô nhơn-t́nh của thầy nữa, chính là nghĩ đến thế bí của thầy vậy.

Một ngàn bạc mà thầy để ra, để trợ-cấp cho người d́ đó, là một hy-sinh rất lớn của một tư-chức c̣n trẻ mà không có tương-lai.  Nghề thơ-kư đánh máy của thầy không giúp thầy có một tia hy-vọng nào ở một ngày mai khá-giả hơn.

Nhưng không giúp d́ th́ không được.

Cô em họ ấy làm không đủ ăn, giá sinh-hoạt lên là cái dịp tốt bất-ngờ cho những chị em buôn gánh bán bưng: rau, đậu ba đồng, họ bán chín đồng, nhưng khoai lang chiên là món ăn chơi của trẻ con, chúng nó hy-sinh cho xôi, cho bắp để điểm-tâm, hết cả tiền rồi, c̣n tiền đâu mà ăn quà cho vui miệng nữa?

Nhưng miệng đói th́ đầu gối phải ḅ, tục-ngữ ta thật là thực-tế và đúng.  Bà d́ từ bao năm nay, không hề có sáng-kiến nào, bỗng dưng nghĩ ra một sanh-kế mới.

Nhơn một bà hàng xóm biếu bà một chiếc nem, khoe rằng đó là nem ngon nhứt xứ, xứ ở đây là một vùng đất rộng, đường bán-kính vài mươi cây-số, tức là Hốc-Môn chạy đến Thủ-Đức, từ Lái-Thiêu chạy đến Nhà-Bè, mà trung-tâm-điểm là Xóm Gà, nhơn dịp đó, bà d́ của Thế mới nhậnđịnh rằng: người thời nay làm nem dở quá!

Thuở bà c̣n thanh-xuân, bà không hề nổi tiếng về nữ-công, nhưng nem mà bà làm ra, mười lần ngon hơn loại nem „ngon nhứt xứ“ nầy.

Thế rồi hai mẹ con của cái gia-đ́nh tuyệt-đối thủ-cựu và thụ-động nầy bỗng dưng làm cách-mạng, và đổi nghề ngang xương, đầu hôm sớm mai.

Bà d́ của Thế dùng số tiền mà Thế vừa trợ-cấp ngày hôm trước, để làm vốn.  Họ đă mạo-hiểm đến Thế phải hoảng lên, v́ nếu họ đứt vốn trong ṿng ba ngày th́ họ sẽ không đủ tiền để ăn cơm tháng đó, c̣n chàng th́ không có tiền để trợ-cấp thêm.

Hai mẹ con bà d́ của Thế quyết-định làm nem mà chưa có thị-trường, thịt nạc nuột-lưng giá 280 đồng một kí-lô mua ở chợ đen, vậy mà họ cứ làm, y như là cờ bạc, lại đánh cầu-âu nữa, chỉ đánh hai cây trong hai ngày mà thôi, v́ ngày đầu họ chỉ dùng nội một kí-lô thịt, với mỡ hoa, lá, là đi đứt 350 đồng rồi, không thể tiếp-tục vào ngày thứ ba được, ngày ấy họ chỉ c̣n có 300 đồng thôi, nếu thu tiền nem của ngày thứ nhứt về chưa được th́ đành nghỉ một vài hôm vậy.

Nem của ngày đầu ấy, họ bỏ chịu cho một cái quán nhậu gần ga Đông Nh́ cũ, v́ người ta không cần, đừng có mong tiền trao cháo múc.

Ngày thứ nh́, hồi bốn giờ chiều, cô em bạn d́ của Thế vừa mang hai xâu nem hai mươi chiếc tới th́ bà chủ quán mừng-rỡ trả tiền ngay cho cô ấy lại c̣n c̣m-măng một số nem bằng hai, cho ngày thứ ba, đưa cả tiền trước nữa là đàng khác.

Thế là nem của bà Sáu Xóm Chùa Dược-Sư đă bắt đầu nổi danh.

Nem bà Sáu „lên“ như diều, hết quán nầy hỏi, đến quán kia đ̣i, nhà bà biến thành xưởng v́ bà phải mượn thêm năm nhơn-công phụ-nữ trong xóm mới đủ tay làm để cung-ứng nem cho thị-trường.

Thời-vận của bà Sáu hanh-thông và cứ lên như vậy cho tới Tết là bà và con bà muốn sụm v́ thị-trường đói hàng, cung không kịp, thức sáng đêm để làm mà bảy ngựi thợ ấy không sản-xuất đủ để thỏa-măn thị-trường.

Nhưng ra giêng th́nh-ĺnh hàng bị ứ-đọng mặc dầu bà Sáu đă sản-xuất ít lại, sản-xuất theo mức-độ của tháng mười một ta mà thôi.

Hỏi các quán, họ cũng chẳng biết tại sao, chỉ nói vu-vơ rằng họ chê nem dở hơn buổi đầu, họ chê ngay từ đầu tháng Chạp lận, nhưng tháng ấy nem vẫn bán được, c̣n được nhiều hơn trước đó nữa, v́ nhờ đó là tháng Tết, sức tiêu-thụ nhiều một cách bất-thường đó thôi.

Tuy trong lúc đó, bà Sáu c̣n khá, v́ mỗi ngày không bán được ba trăm chiếc nem như hồi tháng mười một, chớ bán một trăm chiếc cũng c̣n lời dư ăn, nhưng bà Sáu vẫn lo.

Bà lo v́ số nem bán ra, không sụt nhiều quá trong một ngày, nhưng mỗi ngày đều sụt mươi, mười lăm chiếc, và cái đà „xuống thang“ tuy chậm mà rất đều.  Cái mới là đáng sợ.

Bà Sáu đă có đói rồi, nên bà rất lo đói.  Bà không ham làm giàu, chỉ mong bán ra mỗi ngày năm, ba mươi chiếc nem, do hai mẹ con tự làm lấy, c̣n thợ th́ sẽ cho nghỉ việc hết, hiện bà đă cho nghỉ hết ba người rồi, nhưng mong-mỏi của bà sẽ tiêu-tan như khói v́ cái đà sụt dễ sợ nầy.

Bà bứt đầu, bứt tai mà kêu trời, cho rằng khách hàng khó tánh, và khẩu-khiếu thay đổi khó lường.  Nhưng cô con gái của bà, thực-tế hơn khuyên-dứt bà:

-     Má đừng có than, vô-ích.  Khách họ có bậy làm sao đi nữa, ḿnh cũng phải ráng mà chiều theo cái bậy của họ, không th́ chết đói.

-     Nhưng tao c̣n biết theo bằng cách nào bây giờ?  Th́ cũng bao nhiêu người đây, cũng bao nhiêu công-việc như trước mà ta làm y-hệt như lúc mới ra nghề, chớ có thay đổi món nêm, có thêm hoa da, bớt hoa mỡ, có rang thính kèm theo đâu!

Những bà hàng xóm, biến thành thợ nem phụ c̣n sót lại, mà chí những bà bị cho nghỉ việc cũng xác-nhận rằng bà Sáu nói đúng sự thật.  Họ c̣n khen bà Sáu làm ăn cẩn-thận, ba ngày Tết, sản-xuất rất nhiều, như vậy mà bà coi chừng, coi đổi bao nhiêu người phụ việc ấy luôn luôn, sợ họ mệt quá, đâm ra cẩu-thả rồi cái phẩm của nem bà xuống dốc.

Thế đă khỏi trợ-cấp d́ của thầy nhưng tháng nào thầy cũng vô Xóm Gà một lần, như trước đây, để thăm d́, mà cũng để thưởng-thức món nem của người d́ khéo tay trong thời-buổi phụ-nữ không c̣n mấy người biết nấu ăn theo đường-lối cổ-truyền.

Chúa-nhựt ấy, Thế vào nhà là thấy d́ ngồi khoanh tay rế, mặt buồn hiu, thợ làm nem đă bị giải-tán hết cả, chỉ c̣n cô em họ của thầy.  Cô ấy đang lau lá chuối một ḿnh.  Ấy, d́ của Thế cẩn-thận y như người xưa, làm bán cũng kỹ-lưỡng như làm để ăn, lá chuối gói nem, luôn luôn được lau sạch-sẽ, chớ không như các „ḷ“ nem ngày nay, họ cứ để lá vậy mà gói thịt, cho đến lớp lá vông bên trong, đụng chạm với món ăn mà họ chẳng buồn lau nữa là lá chuối bên ngoài.

Thế hơi lo-lo khi nghe d́ hỏi:

-     À, cháu vô chơi hả, có ǵ lạ không?

-     Thưa d́ không.  Cháu ngỡ thấy sự lạ ở đây kia chớ.

Cô em họ của Thế chào anh rồi đáp hớt:

-     Anh nói rất đúng.  Nem bán mỗi ngày chỉ c̣n được bốn chục chiếc thôi, một ḿnh em cũng dư sức làm.  Đó, sự lạ ở đó.

Thế làm thinh, nh́n cô em họ, rồi nh́n bà d́.  Bà hỏi:

-     Dạo sau nầy con ăn nem, thấy có kém sút hơn trước hay không?

Thế lại làm thinh v́ thầy sợ mích ḷng d́.  Cô em họ của thầy nói:

-     Chắc-chắn là anh có nghe nem ngày nay thua năm ngoái.  Có phải không, anh cứ thẳng-thắn nói giùm đi, để t́m phương mà cứu giùm cái nghề của má em.

-     Ơ ... hơ ... quả thật, nem ngày nay có thua năm ngoái!

-     Nó thua làm sao?  Bà d́ hỏi.

-     Thật là con nói ra không được, chỉ nghe là nó ngon không được như trước.

-     Đó, má thấy hay không? Cô em họ của Thế nói với mẹ.  Thiên-hạ có sai lầm, ta cũng phải chiều ư họ.  Nhưng chưa chắc họ đă sai, bằng-cớ là anh của con cũng cho rằng nem kém hơn trước.

-     Khổ quá!  Chắc là phải chịu đói thôi, chớ tao có biết sao mà tính bây giờ?

Thế đi lại bộ ván bên phải mà trên đó cô em họ của thầy đang lau lá, rồi hỏi nhỏ:

-     Có thật nem bán không chạy nữa hay không em?

-     Th́ anh cứ nh́n nhà vắng hoe là đủ biết.  Tháng trước đông rần-rần, năm người thợ với hai người nhà, vui không biết bao nhiêu.

-     Khách họ chê hả?

-     Dạ.  Nhưng má em với em, với lại mấy bà thợ cũ t́m hoài mà không biết tại sao nem lại hết ngon một cách vô-cớ.

Cô em họ của Thế đă lau xong lá chuối, giờ cô lau lá bên trong.  Thế ngồi nh́n cô em làm việc vài mươi giây, bỗng thấy cái ǵ hơi là-lạ, chàng hỏi:

-     Ủa, sao lá trong lại như vầy?  Lá ǵ đây nè?

-     Lá gáo đó anh à!  Cả xóm nầy chỉ có một cây vông mà nhà nầy đă hái hết lá, sau sáu tháng gói nem, nên phải gởi mua lá gáo nầy tận trên An-Nhơn, trên ấy cũng không có cây vông nào hết.

Thế đăm-chiêu mấy mươi giây rồi day qua hỏi d́ :

-     D́ ơi, hay là tại cái nầy ?

-     Cái ǵ ?

-     Tại lá trong không c̣n phải là lá vông nữa !

Hai người phụ-nữ làm thinh trong sự kinh-ngạc.  Đó là một nghi-vấn mà họ mới nghe đặt ra lần đầu trong đời họ.  Từ bao đời bao kiếp rồi, dân ta, hay ít ra dân miền Nam, thỉnh-thoảng cũng dùng vài loại lá khác không phải là vông, để làm lá trong.

Lâu lắm, người d́ nầy bật cười rồi hỏi :

-     Con có chắc là tại như vậy hay không ?

-     Con tin là tại vậy, v́ con vừa tự đặt ra câu hỏi nầy : “Tại sao từ bao đời bao kiếp rồi, ta cứ gói nem bên trong bằng lá vông chớ không dùng lá khác ?”

-     Có dùng lá khác chớ !

-     Thưa con biết, mà ít khi lắm, chỉ dùng tạm vậy thôi, v́ lẽ nầy hay lẽ khác, nhưng luôn-luôn là dùng tạm.

-     Ừ, rồi sao ?

-     Có lẽ họ kinh-nghiệm rằng gói bằng lá vông th́ nem ngon hơn.  Nếu không phải như vậy, th́ tổ-tiên ta, và ta luôn nữa, có thể dùng bất-cứ lá ǵ, không có trọng-dụng lá vông đến như vậy đâu.

Bà d́ làm thinh, nhưng con bà nói :

-     Em muốn nghe lời anh, thí-nghiệm thử coi.

-     Tao cũng thấy là thí-nghiệm không hại ǵ hết, nhưng khó kiếm lá vông, khó quá.

-     Ḿnh đâu có đi kiếm hồi nào mà má nói là khó với dễ !  Hôm tháng trước, cây vông đây trọi lá, lá non mọc ra chưa kịp th́ có người đề-nghị chở lá gáo xuống cho ḿnh, ḿnh nhận mua liền, v́ đang lúc quá cần, không kén chọn được, nhưng chắc làng khác cũng c̣n được một cây vông chớ !

Nhơn dạo nầy ít công-việc, để má làm nem, con đi kiếm vài ngày là được.

-     Khổ quá, sao ngày nay họ không trồng cây vông nữa không biết.  Thế hỏi lớn lên như vậy.

-     Là tại không ai cần dùng lá vông, d́ đáp.

-     Sao lại không cần, d́ !  Dân ta c̣n ăn nem kia mà.

-     Người ḿnh c̣n ăn nem, mà không c̣n làm nem nữa.

Thế bật cười :

-     Chớ d́ đang làm nghề ǵ đây ?

-     D́ làm nem, nhưng tại d́ làm nem để bán, nên các gia-đ́nh khỏi phải làm nem như ngày xưa.  Ngày xưa, nhà nào cũng làm lấy mà ăn, lá vông, đi xin ở hàng xóm được.  Mấy người trồng vông là mấy người rất ghét cái tật đi xin món nầy, món khác của hàng xóm.  Trong một làng thế nào cũng có năm bảy người ghét như vậy, đó là những người họ đồng-ư với nhau để chia công-việc, cho đỡ tốn đất, nhà nầy trồng cây vông th́ nhà kia trồng cây ngăi, nhà nọ trồng bồ-ngót, rồi họ trao đổi với nhau các thứ, khi nào cần đến.

Ngày nay, cả một vùng chỉ có một người làm nem, ai mà thèm trồng vông giùm cho họ, v́ họ đâu có trồng thứ cây khác cho người khác.

Bà d́ không hay lư-sự nầy, tự-nhiên mà đưa ra một sự thật lớn, trong lúc t́m cách cắt-nghĩa nguyên-nhơn thiếu cây vông cho cháu của bà nghe.

Nhưng sự thật lớn ấy, bà gợi ra mà không nắm được, chính người cháu nầy mới là kẻ nhận-thức sự thật đó là cái hại của việc canh-tác nội một thứ, dầu lúa bắp, rau đậu hay bất-cứ nông-sản nào khác.

Ta làm ruộng, nhưng đồng-thời ta cũng trồng bắp, trồng khoai, nếu rủi ruộng có thất mùa ta c̣n có thể nhờ khoai, nhờ bắp để ăn đỡ ḷng.  Ta trồng các thứ ăn được, ta lại trồng những loại cây kỹ-nghệ như cao-su, ky-náp, cây sơn .... để xuất-cảng, ngơ hầu lấy ngoại-tệ nhập-cảng những đồ thiết-dụng khác, như thuốc trụ-sinh là một.

Dẫu cho huê-lợi của thứ nầy không bằng huê-lợi của thứ khác, nhưng nông-dân họ không luôn-luôn chạy theo cái lợi.  Dân Biên-Ḥa trồng bưởi bán được rất nhiều tiền, nhưng diện-tích đất tốt dùng để cấy lúa lại một trăm lần nhiều hơn diện-tích trồng bưởi, nên biết rằng đất của các ruộng khô ở Biên-Ḥa trồng bưởi tốt lắm, chớ không phải là v́ đất ruộng không thích-hạp với bưởi mà họ không trồng bưởi.

Đó là một sự thật lớn thứ nh́ mà đương-sự, tức nông-dân, có lẽ không ư-thức mà Thế lại vừa được biết.  Sự thật thứ nh́ nầy là nông-dân họ trực-giác được rằng trồng một thứ, nguy lắm, nên mặc dầu không có ai chỉ-vẽ, hướng-dẫn, họ tự-nhiên mà hành-động vẫn đúng.

Bỗng Thế lại t́m ra một sự thật thứ ba nữa, mà đáng lư th́ thầy đă thấy ngay từ lúc mới bàn-căi về việc trồng cây vông.  Sự thật thứ ba ấy là ngày nay, loài người có khuynh-hướng phân-công triệt-để.  Quả thật phận-công lợi hơn là một người tự làm lấy bao nhiêu công-việc, nhưng phân-công quá trớn không khỏi vấp ngă có ngày.

Ngày nay th́ kể cả nông-dân cũng không làm nem mà ăn, không gói bánh tét, bánh ếch ǵ hết, bởi làng nào cũng có ḷ cung-cấp bánh cho dân cả làng.  Nhưng ai trồng cây vông, hở trời ?

Khám-phá về một sự thật thứ tư, làm cho Thế suy-nghĩ lung-tung.  Là một khi cơ-cấu xă-hội thay đổi đột-ngột quá, con người rất bỡ-ngỡ và thường làm sai, v́ một cuộc xáo-trộn tự-nhiên phải xảy đến.  Vụ trồng cây vông nầy là một chứng-minh rất cụ-thể.  Ta tiến từ chế-độ làm lấy đủ thứ công-việc đến chế-độ phân-công chỉ có mấy năm thôi, không có sự chuẩn-bị, chuyển-hướng ǵ cả, các ḷ nem có muốn tự trồng lấy cây vông cũng không trồng kịp.

Thế suy-nghĩ miên-man v́ thầy chưa quyết-định cưới cô gái mà thầy yêu.  Cô ấy chấp-nhận trọn-vẹn những tư-tưởng quá mới trong khi là gái mới lớn lên, cô ta chưa biết rằng ta đă sẵn  có một số vốn tinh-thần, vứt đi hết một lần một không đúng.  Vậy th́ có thu-nạp ǵ thêm, ta cũng nên đi từ-từ, chớ mà cào hết vào thúng th́ chỗ đâu mà đựng, cái cũ đang đầy thúng, cái mới muốn có chỗ nằm, phải chen lấn, gây cảnh hỗn-độn.

Mọi người trong nhà nầy ít hay nói, nên Thế làm thinh mà nghĩ-ngợi năy ǵờ rất lâu, mà d́ của thầy và cô em họ của thầy không ngạc-nhiên ǵ ráo.

Th́nh-ĺnh thầy bật cười.  Thầy cười v́ ba chiếc lá vông dắt thầy đi xa quá, đi tới hôn-nhơn rất khao-khát mà chưa dám ấy, thật là ngộ-nghĩnh cho ḍng cảm-nghĩ của con người, dễ thường nó c̣n dài hơn bất-kỳ trường-giang nào trên quả đất nầy.

Hai người đàn bà không hiểu Thế cười ǵ, cũng cứ cười theo.