Bè luột

B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Cốc … cốc … cốc … cốc … cốc…!

Tiếng mơ tre kêu cứu giữa đêm khuya, từ dưới sông Đồng-Nai vang dội lên làng nằm ven bờ sông, báo hiệu cho dân làng – không cho các nhà khai-thác lâm-sản - biết rằng một bè cây đang „luột“.

Mặc dầu trong ṿng ba mươi năm nay, người ta kéo cây từ rừng sâu về Sàig̣n bằng xe cam-nhông, những chiếc xe be dài thậm-thượt, lối vận-tải bằng đường thủy vẫn c̣n, v́ nhiều khu rừng ở sâu quá mà không có đường xe, không làm sao lưu cây bằng đường bộ được.

Thợ rừng đốn cây xong, cho trâu kéo be băng rừng ra bờ sông Đống-Nai, miệt trung-lưu, kết bè trên những thân be nặng-nề ấy rồi cứ để đó vài tháng, đợi mùa nước.

Mưa xuống vài tháng nữa là mặt sông Đồng-Nai dâng lên cao, bè thả trôi xuống Sàig̣n dễ-dàng và nhứt là không tốn-hao đồng xu xăng, nhớt nào cả.

Tuy nói thế, chớ bè không đi thẳng Sàig̣n đâu, mà phải ghé lại đồn kiểm-lâm tại chợ Tân-Uyên để đóng thuế.  Thành-thử bao nhiêu nhà khai-thác lâm-sản mà dùng lối thủy-vận đều đóng đô ở Tân-Uyên để lo thuế-vụ, giấy-tờ cho tiện, mà nhứt là để kiểm-soát thợ rừng.  Ấy, Sở Thủy-Lâm cần kiểm-soát các nhà khai-thác lâm-sản, c̣n các nhà nầy lại cần kiểm-soát anh em thợ rừng, họ ăn gian các ổng bằng trăm mưu ngàn kế, kể ra không xiết.

Chẳng hạn, trước mùa cây, họ mượn tiền của ông X. nhưng bè xuống, họ lại giao cây cho ông Y. để lấy thêm tiền mặt.  Chẳng hạn, họ có thể giao cây cho ông X. nhưng mượn mười, họ chỉ giao năm, bịa ra rằng cây đứt dây khi bè đi ngang những thác nước đá hàn.  Ông X. cần kiểm-soát coi dây đơi cột cây vào bè, đứt tự-nhiên v́ nước hàn xô đẩy quá mạnh? hay v́ thợ rừng tự-ư chặt cho nó đứt? hai lối đứt rất khác nhau, nhà chuyên-môn trông qua là biết ngay.

Những cây be bị chặt đứt ch́m xuống đáy hàn ấy, đối với các nhà khai-thác lâm-sản, kể như bỏ đi rồi.   Ấy vậy mà qua mùa khô, hàn cạn, các ông thợ rừng trở lên hàn, lặn xuống vớt lên để bán cho người khác.

Cốc … Cốc … Cốc … Cốc … Cốc ...!

-     Bè luột! 

Cả làng đều nói lên hai tiếng đó, nói để mà nói chớ không nghĩ ǵ cả, bởi bè không phải là tài-sản của họ, nói v́ quen miệng hàng trăm năm trước, sự rủi-ro nầy, trong mùa nước, năm nào cũng xảy ra vài mươi đám.

Bè to quá và nặng quá, mà nước lụt lại chảy xiết rất mạnh: bè đang trôi ngon trớn không dễ ǵ mà khi đi ngang qua chợ Tân-Uyên, người thả bè lại ghé vào được.

Ghé không được, bị đẩy trôi luôn gọi là „luột“.

Nhà nhà nói với nhau: „Bè luột“ mà không nghĩ ǵ cả, nhưng các nhà khai-thác lâm-sản lo lắm.  Họ phải cho xuồng nhỏ, do các tay bạn bơi chèo thiện-nghệ rượt theo bè ngay, để bắt kịp bè, hầu phụ-lực với người thả bè, cứu bè vào bờ, bến tạm nào đó, càng gần chợ càng hay, bởi để bè trôi xa chợ quá, vài hôm sau, mời Sở Thủy-Lâm đi kiểm-soát rất khó-khăn và rủi-ro nó trôi tới đồn kiểm-soát thứ nh́ nằm cách đó hai mươi cây-số th́ rắc-rối không biết bao nhiêu: đồn nầy có thể bảo rằng đó là cây lậu, và phạt rất nặng.

Đồn Thủy-Lâm Tân-Uyên là đồn tiền-tuyến mà bè nào qua khỏi đó một cách không công-khai là nguy.

-          Bè luột!

Người dân nói với nhau như vậy, nhưng không biết là bè của nhà khai-thác nào?  Nhưng các nhà khai-thác th́ biết.

Mỗi thợ rừng của nhà khai-thác lâm-sản ở đây, đều có ước-lệ với chủ-nhơn về lối đánh mơ báo-động , mỗi giọng mơ tre là một lối kư tên, các nhà khai-thác lâm-sản chẳng những biết, bè gặp nạn là bè của ḿnh, mà c̣n biết cả kẻ thả bè tên là ǵ? cây đốn ở khu rừng nào? be gồm bao nhiêu be? thuộc loại cây ǵ? cây ấy là be, tức c̣n nguyên vỏ, hay đă được đẽo vuông rồi?

Cốc … Cốc … Cốc … Cốc … Cốc …!

-     Bè luột!

Người dân thường chỉ nói thế rồi thôi, riêng lần nầy, họ kinh-ngạc hết sức.

Năm nay trời ít mưa, mực nước lên không bao nhiêu và sức nước đổ chỉ vừa chừng thôi.  Như vậy, bè không thể luột được, và đây là đám bè luột đầu-tiên trong mùa, bè nầy có lẽ là bè cây thứ một trăm đă tới đồn Tân-Uyên.

Các tay thợ rừng chuyên sống về rừng nhưng họ cũng tài-dách về việc thủy-vận.  Thường th́ khi bè xuống, c̣n cách chợ Tân-Uyên độ một cây-số ngàn. họ cột một đầu đơi vào eo ếch, rồi họ bỏ bè, nhảy xuống sông để lội vào bờ.

Họ nhẹ nên vào bờ tương-đối dễ, vậy mà cũng phải bị đẩy trôi bảy tám trăm thước họ mới đạt mục-tiêu.

Tới bờ, họ t́m cây to mọc dựa bờ sông, cột đầu dây đơi vào đó, mấy công việc nầy mất độ mười phút nữa và bấy giờ, bè cũng đă trôi tới nơi rồi.  Lẽ cố-nhiên bè bị bịn lại v́ đầu đơi kia c̣n cột vào bè.

Năm nay, sức nước đổ yếu-ớt như thế nầy th́ dây đơi không thể đứt được và bè không thể luột được, bằng-cớ là từ hôm đầu mùa tới hôm nay, dân làng chưa hề nghe tiếng mơ tre báo-động lần nào cả.

Bấy giờ là chín giờ đêm.  Trời mưa lâm-râm.  Bà Cả Sởi nghe giọng mơ, nhận ra bè của nhà bà, bà hoảng-hốt, nói với ông đang b́nh-tĩnh ngồi hút thuốc trên ghế trường-kỷ:

-     Ông ơi, bè ta luột!

Ông Cả Sởi phà khói chẫm-răi rồi cười khà, làm như không có việc ǵ xảy ra cả.

-     Nguy quá ông ơi, thằng Xọp lại không có nhà đêm nay, bà nói tiếp, giọng càng hoảng-hốt, càng bối-rối, tuyệt-vọng.

 

                                                                ***

 

Cốc ... Cốc ... Cốc ... Cốc... Cốc ...!

Thằng Xọp là thằng người nhà, thường nó làm công-việc vặt, nhưng qua mùa hè, nó là tay thiện-nghệ rượt bè luột bằng xuồng nhỏ.  Nó điều-khiển chiếc xuồng ba-lá nhỏ bằng bàn tay của ông Cả trên một ḍng sông nước đổ cuồng-bạo vào mùa nước lũ, dễ như chơi thôi, như ta điều-khiển một chiếc quạt giấy, và nó chèo thế nào mà xuồng chạy như gắn máy sau lái, không hề có chiếc bè luột nào mà vượt khỏi tay nó, trong một lộ-tŕnh tối-đa là năm cây-số đường nước, mặc dầu bè lớn phải trôi mau gấp năm lần xuồng nhỏ.

Ông Cả Sởi cười khà rồi nói :

-     Bà chỉ truy-tầm được có phần đầu của căn-cước chiếc bè.  Đó là bè của ta.

“Nhưng tôi th́ tôi lại biết thêm rằng : bè ấy do thằng Tư Gần thả”.

-     Gần hay xa ǵ, cũng phải cứu nó chớ !

-     Khỏi !  Nó là thằng thợ rừng, thợ thả bè giỏi nhứt nước ta th́ không lư ǵ nước đổ yếu như vầy mà bè nó lại luột.

-     Biết đâu là v́ rủi-ro dây đứt ?

-     Dây của nó là đơi mới mua hôm đầu mùa, không thể đứt được !

-     Nhưng mà sự thật là nó đang kêu cứu đó.

-     Thây-kệ cha nó !  Mai sáng, tôi xuống An-Chữ là nắm đầu nó được liền.

Làng An-Chữ sống về công-nghệ cưa gỗ nằm cách đó bốn làng.

-     Bộ ông nghi nó ….

-     Chớ sao !  Nó chỉ giả-bộ luột thôi, rồi một tuần-lễ nữa, nó về mếu-máo, khóc-lóc nói rằng bè trôi tuốt ra biển.

“Nó đă làm như vậy một lần, cách đây mười năm, hồi nó c̣n mần ăn với chú Huến.  Chú Huến là cắc-chú, không biết ǵ hết ở xứ nầy, chớ tôi th́ nó qua mặt sao được !  Đời thuở nào bè lại trôi tuốt ra biển v́ chỉ có sông Đồng-Nai là bị lụt thôi, c̣n sông Bến-Nghé, th́ không ?  Khi bè trôi ra tới ngả ba Đồng-Nai và Bến-Nghé tức là tới Nhà-Bè th́ bè phải trôi chậm lại, ghé bờ dễ như ăn cơm.”

-     Nhưng sao nó lại…

-     V́ nó là thằng bất-lương số dách.  Bà biết không, có những năm nó ở không, không thèm lên rừng mần ăn ǵ hết, mà vẫn có tiền xài như tôi với bà.

“Để tôi kể một vụ ăn cướp của nó cho bà nghe.

“Bà nên biết rằng các « ụ » cây ở Chợ-Lớn, thí-dụ như « ụ » Vĩnh-Hưng-Long, nó đồ-       sộ quá-xá ngán, họ mua cây tích-trữ trong ụ, tàu mà chở cũng không hết.

“Thường th́ bè xuống tới nơi, ngả giá xong rồi, họ cho chặt dây cho cây ch́m xuống đáy ụ của họ.  Đó là một lối cất cây rất hay, để khỏi tốn một đám đất, lại khỏi sợ trộm cắp, hơn nữa, cây ngâm bùn ngâm nước lâu ngày, tốt lắm, ít bị mọt ăn về sau, mà cũng ít rút lúc cưa ra thành ván.

“Ậy, thằng Gần nó sắm một chiếc bè tre chỉ có tre không mà thôi, rồi thả xuống Chợ-Lớn, canh thế nào mà xuống tới ụ Vĩnh-Hưng-Long th́ đúng chín giờ tối như bây giờ.

“Lẽ dĩ-nhiên là nó đóng thuế đàng-hoàng, nhưng mà thuế bè tre, không đáng kể.

“Ông Vĩnh-Hưng-Long và người nhà của ông vốn quen mặt nó từ nhiều năm rồi, cho nên nó xin đậu bè, ngủ trong ụ rất dễ-dàng.

“Khuya lại, nó lặn xuống đáy ụ, nâng cây của người ta lên ….

-          Làm sao nó nâng nổi ?

-          Ậy, cây nặng thật, nhưng ở dưới nước sao nó lại nhẹ hểu, tôi cũng không biết nữa.  Một cây be, trên đất mười người khiêng mà c̣n cóng-róng, vậy mà từ đáy sông nâng lên mặt nước, chỉ một người làm cũng đủ rồi, miễn là nâng mỗi lần một đầu cây thôi.

      “À, nó lặn xuống, nâng cây lên, rồi cột dưới dạ bè tre của nó.  Xong rồi nó rửa bùn bám vào cây thật sạch, làm như là cây c̣n mới, từ rừng mới về.

      “Thế là sáng ra, nó bán cây của ụ Vĩnh-Hưng-Long cho chính ông Vĩnh-Hưng-Long.  Ông ấy có cả ngàn cây dưới ụ như vậy, không kiểm-soát được, hễ thấy cây sạch-sẽ, tức c̣n mới, da có mang dấu búa kiểm (búa kiểm-soát của Sở Thủy-Lâm) là ông ta mua ngay.

-          Trời đất, quỉ-thần ơi !  Cái thằng thật là quân ăn cướp cạn.

Ông Cả cười ha-hả rồi cải-chánh:

-     Không, nó ăn cướp dưới nước chớ !

Bà cũng cười rồi hỏi :

-     Nhưng ông thành-thạo như vậy, sao nay nó lại dám toan qua mặt ông ?

-     Bà quên mất rằng thiên-hạ đă đồn tôi chết hay sao ?

 

Quả thật thế.  Cách đây nửa tháng, ông Cả Sởi th́nh-ĺnh ngất đi giữa nhà việc làng.  Người ta phải khiêng ông về nhà bằng vơng, thế nên mới có tin đồn ấy !

Cái tin vịt đó, đi mười lăm ngày mới tới tận rừng sâu, tận tai Tư Gần.  Hắn ta thả bè trước khi tin cải-chánh đến nơi, thành-thử hắn nghĩ bụng rằng bà Cả thật-thà, lại đang buồn v́ cái tang mới chắc là không thiết đến công-việc làm ăn nữa, nên hắn quyết làm một cú đêm nay để kiếm bạc cắc một cách khỏe ru.

Cốc … Cốc … Cốc … Cốc … Cốc …!

Ông Cả Sởi cười khà rồi nói thêm :

-     Thằng Gần đă mần ăn với nhiều người rồi, rất nhiều tay làm cây nhận được giọng kêu-cứu của nó đêm nay.

“Tôi dám chắc rằng họ cũng đang cười thầm như tôi đang cười lớn bây giờ, v́ họ biết nó quá nhiều.

Cốc … Cốc … Cốc … Cốc … Cốc … !

-     Mai nầy, ông Cả nói, tôi không đi một ḿnh, mà đi với ông Kiểm.

“Như vậy không phải chỉ có thằng Gần sẽ bị nắm đầu, mà cả thằng cha Hương Nghiệp cũng bị ông Kiểm nắm đầu tuốt.  Nó là chủ một trại cưa chuyên-môn mua cây lậu của những chiếc bè luột … giả.