Truyện ngắn HƯƠNG QUÊ

 

20 năm và 2000 năm

 

B̀NH-NGUYÊN LỘC

 

 

Năm 1946, chú Tư Lép bị quân-đội Pháp bắn chết ngay giữa sân nhà chú.

Họ nói là họ xử-tử chú nhưng gia-đ́nh chú cho đó là một cuộc ám-sát, mặc dầu nó xảy ra ban ngày, trước mắt cả làng.

Chẳng, ta có phương-pháp bảo-vệ những trái nhăn chín bằng hai cách, dùng song-song với nhau.  Trước hết, ta nhập những chùm nhăn rời-rạc lại thành một chùm lớn bằng trái bưởi rồi bó tất cả lại bằng đệm trần.  Nhưng mỏ của loài dơi và của vài thứ chim xé rách đệm trần dễ như chơi, thành-thử ta lại treo lên cây nhăn một chiếc thùng thiếc với bên trong thùng một khúc củi.  Một sợi dây dừa cột dính vào thùng, chạy thẳng vào nhà bếp và các bà nội-trợ cứ thỉnh-thoảng, năm mười phút một lần, nắm đầu dây trong nhà mà giựt, chiếc thùng khua lên v́ bị khúc củi, như quả lắc đồng-hồ, đánh vào vỏ thiếc, thế là dơi và chim chóc mới đáp xuống chưa kịp đánh chén đă hoảng bay đi mất.

Nhà chú Tư nằm dựa Quốc-lộ số 1.  Sáng hôm ấy một đoàn tuần-tiễu quân-đội viễn-chinh Pháp, mười một người, thuộc đơn-vị trấn-đóng tại quận-lỵ ở cách đó sáu cây-số, vừa đi ngang qua trước nhà chú Tư th́ nghe tiếng thùng khua.  Họ t́m nguồn-gốc của tiếng động, và dĩ-nhiên đă thấy bộ máy đuổi dơi thô-sơ của dân-tộc Việt-Nam mà cả đời họ chưa bao giờ thấy ở nơi nào khác.  Họ đoán rất hữu-lư, theo lô-rít Đề-Cạt (logique de Descartes), rằng đó là cái máy báo-động cho „Việt-Minh“ hay biết để mà chạy trốn, hoặc để mà dàn trận tấn-công họ.

Họ xông vào nhà, tóm lấy ông gia-trưởng đang ăn bữa cơm sáng, lôi ông ta ra sân, rồi gọi dân làng đến để chứng-kiến một cuộc trừng-phạt gương-mẫu, ngầm nói lên rằng: ai giúp đỡ cho „Việt-Minh“ sẽ phải bị trừng-trị gắt như thế.

Rồi th́ ... đoàng một tiếng, chú Tư Lép hóa ra người thiên-cổ.

Chỉ có thím Tư là khóc kể khi nhào lăn xuống đất ôm thây chồng, c̣n thằng Ḥn th́ như là không thương cha, đứng đó mà thẫn-thờ cả buổi.

Suốt non mười bảy năm liền, từ năm 1946 đến năm 1954, mà ta thu-hồi chủ-quyền quốc-gia, vùng ấy không có sản-xuất nhăn.  Bao nhiêu nhăn chín, dân làng họ nhường cả cho đám chim tha-hồ làm tiệc.

Các viên thông-ngôn của nhà binh Pháp cũng có người khá, và anh thông-ngôn hôm đó đă cố giải-thích, nhưng nói thế nào, các ông lính râu ŕa cũng chẳng chịu hiểu cho, th́ không mong ǵ rồi họ sẽ hiểu, vả lại họ chỉ trấn-đóng nơi đó có một thời-gian ngắn rồi được thuyên-chuyển đi nơi khác, đơn-vị khác tới, cũng không hiểu y như họ.

Chú Tư Lép chỉ có một đứa con là thằng Ḥn, năm ấy đương mười bốn tuổi.  Ba cây nhăn trồng ở sân nhà, đă nuôi sống gia-đ́nh, v́ nhăn ở miền Nam ta hiếm lắm, bán rất được tiền, nhưng nguồn lợi đă mất, đứa bé mười bốn thành trụ-cốt gia-đ́nh một cách bất-ngờ, chẳng được chuẩn-bị, vơ-trang ǵ hết, thành-thử nó phải vất-vả quá sức mới kiếm đủ cái ăn cho nó và cho một bà mẹ thường đau ốm.

Đứa bé mười bốn liếng-thoắng và tinh-nghịch ngày xưa bỗng biến thành một người lớn lầm-lầm ĺ-ĺ, ít nói, không bao giờ cười, lẽ dĩ-nhiên không chơi giỡn với trẻ đồng-lứa ở hàng xóm nữa.

Bây giờ nó đă là người đàn ông trong gia-đ́nh rồi, có trách-nhiệm th́nh-ĺnh, mà lại là thứ trách-nhiệm rất nặng của một ông gia-trưởng, làm-lụng nhiều th́ đă đành rồi, mà thường th́ chính nó phải quyết-định, giải-quyết những vấn-đề mà đàn bà không biết xử-trí ra sao?

Năm ấy nó đang học lớp nhứt tiểu-học ở trường quận th́ phải bỏ học để đi làm thuê trong làng.

Dân làng, và cả má nó nữa đều thầm đoán rằng sở-dĩ nó bỗng-nhiên thay tâm đổi tánh, đang nói như cưởng, đang nghịch như quỷ, bỗng câm miệng lại cả ngày và đi đâu, chỉ nh́n mặt đất như để t́m bạc rơi, đó chính là v́ nó đang khơi lại mối thù và đang t́m mưu để báo-phục.

Người ta định rằng nó sẽ t́m cách vào bưng-biền, mà nó cũng có ư-nghĩ ấy, nên thím sợ-hăi lắm.  Thím tư đă mất chồng, nếu thím lại mất con, thím biết dựa vào đâu, trên phương-diện t́nh-cảm?  Đứa con độc-nhứt nầy là nguồn an-ủi duy-nhứt của những năm c̣n sót lại của đời thím, nếu nó đi mất, thím sẽ không c̣n lẽ sống nữa, thím lo-sợ là v́ thế chớ không phải v́ sanh-kế, bởi tuy thường đau yếu, thím cũng có thể sống lây-lất được v́ thím không có nhu-cầu nào khác hơn là ngày hai bữa cơm ăn với muối sả.

Trong khi đó th́ thằng Ḥn tiếp-tục, lầm-lầm, ĺ-ĺ, nó không buồn, nhưng có vẻ nghĩ nhiều, rơ-ràng là một ông cụ non.

Năm quân-đội Pháp triệt-thối, má nó thở ra nhẹ-nhơm.  Kẻ thù đă đi mất rồi th́ chắc là nó sẽ không làm ǵ đáng phải sợ nữa, cho dẫu căm-thù nơi nó vẫn c̣n.

Những phần-tử nạn-nhơn của đạo quân viễn-chinh Pháp trong làng thất-vọng ghê lắm.  Họ cũng căm-thù, nhưng không dám hành-động, họ mặc-nhiên ủy-quyền cho chú bé mà họ thầm khen là có „chí-khí“ để chú ta mạo-hiểm rửa hận cho họ.  Nhưng chú ta cứ lần-lựa măi, có lẽ v́ nhát gan, giờ các ông Tây đă xuống tàu hết rồi th́ huề vậy!

Chú bé làm thuê được một số dân làng thầm-lặng xem là anh-hùng tương-lai ấy, bỗng trở nên xoàng-xĩnh như bất-kỳ anh thợ cày nào trong làng.  Tệ hơn nữa, năm ấy chú bé lập gia-đ́nh.  Ở thôn-quê, ngày nay lập gia-đ́nh năm hăm hai tuổi là vừa, không quá sớm, mà cũng chẳng trễ, nhưng cậu nào cưới vợ, là cậu ấy từ bỏ mộng lớn rồi vậy.  Nếu Tây mà cứ c̣n hoạnh-họe ở xứ ta, cậu Ḥn vẫn sẽ thủ-phận làm một nạn-nhơn nhẫn-nại chịu-đựng số-phận, chớ không lẽ lúc rảnh-rang, không hành-động, giờ có thêm bổn-phận lại đi mạo-hiểm hay sao?

Người gia-trưởng bấy giờ đă ra người gia-trưởng rồi.  Hắn biết nghề thợ mộc và làm việc kiếm đủ tiền nuôi ba miệng ăn khá no ấm.

Nhưng hắn không hết lầm-lầm, ĺ-ĺ, không phải là buồn, mà như là suy-tính cái ǵ.  Nhăn đă được bảo-vệ trở lại theo phương-pháp ngàn đời của dân-tộc, nên gia-đ́nh nầy lại dư ăn, cho tới năm 1965 th́ ba cây nhăn cho huê-lợi mỗi năm mười lăm ngàn bạc.

 

***

 

Ông gia-trưởng Ḥn có được ba đứa con mà đứa đầu ḷng lên bốn, tức nhà có sáu miệng ăn, nhưng vẫn no-ấm như thường.  Nếu ông gia-trưởng trẻ nầy không có tham-vọng làm giàu th́ ông ta có thể hưởng cuộc đời một cách an-ổn, không phải lo nghĩ về tương-lai, bởi nhăn chưa lăo, mà công-việc thợ mộc th́ có hoài-hoài, giá sanh-hoạt lên, ông lấy công lên, ông bán nhăn cao giá hơn, t́nh-h́nh tài-chánh của gia-đ́nh không thể bị xáo-trộn bất-cứ v́ biến-cố nào.

Nhưng ông ta vẫn cứ lo nghĩ.

Măi cho tới mùa nhăn năm 1966 th́ huê-lợi về nhăn thâu được bốn mươi ngàn v́ giá sanh-hoạt nhảy vọt.  Các gia-đ́nh sống về nhăn trong làng rất lo-lắng nạn dơi, nạn chim.  Những cây nhăn hiếm-hoi trồng nơi sân nhà họ mà bị loại „bán thú bán cầm“ ấy phá-hại nhiều, họ sẽ mất lợi to và thật không biết lấy ǵ để bù-đấp vào lỗ hổng, bởi gia-đ́nh nào sống nhờ nhăn, ông gia-trưởng cũng đă lên lăo cả rồi, không c̣n làm ǵ khác hơn được.

Mùa nhăn năm ấy, chú thợ mộc Ḥn bớt nhận c̣m-măng về đồ mộc.  Chú bận làm việc khác.  Chú đan những chiếc giỏ bằng trúc, to hơn trái bưởi một chút, mà đương hằng trăm chiếc như vậy, không biết do ai đặt cho chú làm và để làm ǵ?  Trúc đan những cái giỏ ấy rất khít mặt, giỏ lại có nắp đậy, mà nắp th́ được chừa một lỗ rộng bằng một chiếc nắp tĩn nước mắm.

Một ngày sau khi chú thợ Ḥn xong công-việc đan giỏ th́ dân làng mới hiểu.  Giỏ có nắp, khi đậy nắp lại, nó biến thành những chiếc lồng kín.

Chú thợ cũng bắt đầu bó nhăn bằng đệm trần, v́ đệm trần cầm giữ hương nhăn, nhưng ngoài những cái túi đệm trần ấy, chú ta c̣n dùng lồng trúc bao-phủ kín-đáo các bó nhăn.  Cái lỗ chừa lại nơi nắp lồng, là để cho các nhánh nhăn nhỏ của các bó nhăn có chỗ mà liên-lạc với các bó nhăn trĩu đầu cành.

Mặt trúc đan nhặt ngăn được cả những con chim sâu nhỏ, những con chim húp mật tí-hon nữa, mặc dầu hai loại chim nầy không phá nhăn, nhưng chú thợ Ḥn cứ đề-pḥng mọi bất-trắc v́ dơi con có thể cũng phá nhăn như dơi lớn.

Sướng nhé!  Các bà nội-trợ hết là nô-lệ của sợi dây dừa suốt mùa nhăn mà cứ năm mựi phút một, các bà phải giựt một cái.  Các bà có thể đi chợ, đi đây, đi đó, v́ nhăn đă được bảo-vệ thật chắc-chắn, hữu-hiệu rồi, bằng giải-pháp nầy.

Cả làng, rồi cả vùng đều bắt chước chú thợ Ḥn.

Th́ ra, từ hai mươi năm nay, nghĩ-ngợi của chú ta là nhắm việc phát-minh nho-nhỏ nầy.  Những phút mà chú ta thẫn-thờ trước thi-thể của cha chú ngày xưa, có lẽ là những phút chú tự hỏi sao dân-tộc ta không t́m cách bảo-vệ nhăn hữu-hiệu hơn và ít tốn th́-giờ hơn là khua thùng thiếc, một bộ máy dị-kỳ làm cho ngoại-nhân hiểu lầm.

Những người dân làng ham trả-thù, đă xem thường chú thợ Ḥn nầy từ mấy năm nay, giờ họ lại khinh chú ra mặt.  „À, th́ ra nó bận-tâm v́ lợi, chớ không phải v́ thù nhà, nợ nước!“

Cũng khó mà bênh-vực chú thợ Ḥn, trước loại dư-luận nầy.  Nhưng mà sinh-hoạt của cả một dân-tộc nếu bị độc-loại-hóa trong suốt hai mươi năm th́ ai cày ruộng để  nuôi lính, ai cất nhà cho toàn dân, ai bốc thuốc cho các con bịnh.  Đó là nói về nợ nước.  C̣n thù nhà th́ một cuộc phát-minh có lợi cho đoàn-thể, không gỡ tội đứa con bất-hiếu (nếu quả là có tội bất-hiếu) được hay sao?

Chỉ phiền là – đây là ư-kiến của phần-tử ôn-ḥa – chỉ phiền là chú thợ nó đă bỏ ra quá nhiều th́-giờ, những hai mươi năm trường mới nghĩ được một cái giỏ giản-dị, không có ǵ đáng thán-phục cả.

Chú thợ Ḥn đă trở lại thành một người b́nh-thường từ ngày bao cái túi đệm trần bằng giỏ trúc, chú hết nh́n mặt đất, nghĩ-ngợi lung-tung, hết băn-hăn, bó-hó nữa, hơn thế, đă biết cười, đă chịu nói-năng, bỗng đăm-chiêu trở lại như trước, khi nghe lời phê-b́nh trên đây.

Chính chú ta cũng chợt thấy rằng ḿnh đă phí quá nhiều năm tuổi để chỉ phát-minh ra được một cái giỏ không có ǵ là phù-thủy, là đáng kinh-ngạc cả.

Chú ta lại chun trở vào cái vỏ im-lặng của chú trong nhiều tháng trời.

Nhưng một hôm, một người cuối thôn cũng phê-b́nh như thế, trong một bữa ăn giỗ kia.  Chú thợ Ḥn đă uống đến ba ly rượu đế nhỏ rồi, và rượu chắc đă bấm vào cái nút điện bí-mật nào nơi trí-óc của chú, nên chú t́m được „cái lẽ“ của cuộc lăng-phí tuổi đời của ḿnh.  Chú nói to:

-     Các chú, các bác, có biết dân ta đă bỏ ra bao nhiêu năm để phát-minh cây sào lồng bẻ xoài hay không?  Tôi th́ tôi tin rằng chắc họ nghĩ kế hằng trăm năm mới t́m được một cách bẻ xoài vừa an-toàn cho sinh-mạng họ, vừa an-toàn cho những trái xoài như ngày nay.  Các chú, các bác quen mắt thấy cây sáo lồng không có ǵ đáng phục, nhưng mà không phải là đầu hôm sớm mai, người ta nghĩ ra được dụng-cụ đó đâu.

Nhưng hai mươi năm, năm mươi năm, một trăm năm t́m-ṭi, mà không uổng công đối với tiện-lợi cho cả hai, ba ngàn năm, dân ta đă bẻ xoài ít lắm cũng từ hai ngàn năm rồi!

Vậy th́ hai mươi năm lo nghĩ của tôi, đâu có phải là hai mươi năm lăng-phí.