B Ì N H – N G U Y Ê N   L Ộ C

Cuộc Ðời và Văn Nghiệp - Tống Diên - 01 02 03  - PDF

II .-  VĂN NGHIỆP

   1.- Các bút hiệu:

Bình-nguyên Lộc: bút hiệu chánh cho các truyện ngắn, truyện dài tình cảm.

Phong Ngạn : bút hiệu của tiểu thuyết dã sử „Quang Trung Du Bắc“ „Tân Liêu Trai“

Phóng Ngang, Phóng Dọc: biến thể của Phong Ngạn, bút hiệu của những bài trào phúng.

Trình Nguyên: bút hiệu của một feuilleton,  tiểu thuyết dã sử liên quan đến cuộc chiến Việt Chiêm, chỉ xuất hiện trong một truyện.

Tôn Dzật Huân: bút hiệu của truyện trinh thám, là một loại tự-mê (anagramme) biến thể từ tên tộc Tô Văn Tuấn, chỉ dùng một lần

Hồ Văn Huấn: bút hiệu của khảo cứu „Sửa Sai Cổ Sử“, cũng là loại tự-mê, biến thể từ tên Tô Văn Tuấn, xuất hiện từ khi ở hải ngoại.

Diên Quỳnh: bút hiệu của chỉ một truyện vừa, tình cảm ở nồng độ tâm trạng đen, và của chỉ một truyện ngắn khác.

   2.-  Quá trình hoạt động văn chương báo chí theo thứ tự thời gian

1942-45:  bắt đầu viết văn, viết báo, cộng tác với báo THANH NIÊN của kiến trúc sư  

           Huỳnh Tấn Phát 

1946:  làm báo

1948:  chánh thức sinh sống với nghề viết văn, làm báo       

1950:  báo ÐIỂN TÍN

1951-1957:  báo LẼ SỐNG của Ngô Công Minh với bút hiệu PHONG NGẠN, PHÓNG    NGANG, PHÓNG DỌC

báo VIỆT THANH (1951) với bút hiệu TRÌNH NGUYÊN

tuần báo ÐỜI MỚI (1951-54) của TRẦN VĂN ÂN

báo TIN MỚI (1952) của TRẦN VĂN ÂN với nhiệm vụ là chủ biên và ký bút hiệu là

           TÔN DZẬT HUÂN trong một truyện trinh thám

1957-1958:  các tạp chí BÁCH KHOA (không thường xuyên tới 1975), VĂN HÓA NGÀY  NAY (của NHẤT LINH)      

1959: chủ nhiệm tuần báo VUI SỐNG, ngoài bút hiệu chánh còn có tên DIÊN QUỲNH.

1960-1962:  phụ trách trang trong của báo TIẾNG CHUÔNG

1963: báo QUYẾT TIẾN cùng với NGUYỄN KIÊN GIANG, TRƯỜNG SƠN, HỒ VĂN ÐỒNG.  Ít tháng sau ông trở lại báo Tiếng chuông

1964-1965:  chủ biên báo TIN SỚM

1966:  chủ biên tờ HY VỌNG của Tướng NGUYỄN BẢO TRỊ

1975-1985:  không tham gia các sinh hoạt văn nghệ báo chí.  Lý do: bịnh kiệt sức và huyết áp cao

10.1985:  định cư ở Mỹ.

1986-1987:  TIỂU THUYẾT NGUYỆT SAN, báo ÍCH TRÁNG, VIỆT NAM NHẬT BÁO, VĂN NGHỆ TIỀN PHONG, LÀNG VĂN, PHỤ NỮ DIỄN ÐÀN, NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT, ÐỜI (của Nguyên Sa), THẰNG MÕ, CHUÔNG VIỆT,  VĂN, NHÂN VĂN, VIỆT NAM TỰ DO, LỬA VIỆT, v..v..

v.v…

07.03.1987:  từ trần vì huyết áp cao

3.- Tác phẩm đã xuất bản

1950        Nhốt Gió

1959 Ðò Dọc (lúc còn ở dạng thức feuilleton thì mang tựa là “Gái Chợ Về Quê”);  Gieo Gió Gặt Bão;  Tân Liêu Trai (ký bút hiệu Phong Ngạn).

1960        Ký Thác

1962  Nhện Chờ Mối Ai

1963        Xô Ngã Bức Tường Rêu;  Bí Mật Của Nàng;  Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương;  Bóng Ai Qua Ngoài Song Cửa;  Hoa Hậu Bồ Ðào;  Mối Tình Cuối Cùng;  Nửa Ðêm Trảng Sụp;  Tâm Trạng Hồng.

1965        Ðừng Hỏi Tại Sao;  Mưa Thu Nhớ Tằm.

1966        Tình Ðất;  Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình-nguyên Lộc.

1967        Một Nàng Hai Chàng (quay thành phim Hồng Yến năm 1972);  Quán Tai Heo; Thầm Lặng; Trâm Nhớ Ngàn Thương (TrâmNgàn là tên hai nhân vật chính);  Uống Lộn Thuốc Tiên; Nụ Cười Nước Mắt Học Trò.

1968        Ðèn Cần Giờ;  Diễm Phương;  Sau Ðêm Bố Ráp.

1969        Cuống Rún Chưa Lìa;  Khi Từ Thức Về Trần;  Nhìn Xuân Người Khác;  Món Nợ Thiêng Liêng.

1971        Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam

1972        Lột Trần Việt Ngữ; Cõi Âm Nơi Quán Cây Dương, Lữ Ðoàn Mông-Ðen

Ngoài ra còn có một số tác phẩm không nhớ rõ năm xuất bản.  Ðó là truyện nhi đồng Ði Viếng Ðời Xưa (1962 (?);  Tỳ Vết Tâm Linh.

Trong tập Ký Thác có hai truyện được dịch ra tiếng ngoại quốc:

Rừng Mắm, truyện ngắn được xem là tác phẩm cô động của trường thiên tiểu thuyết Phù Sa, hoặc ngược lại Phù Sa là tác phẩm triển khai ra cho dài của truyện Rừng Mắm, theo ghi chú của nhà xuất bản Văn Nghệ, đã được nhà thơ Xuân Việt, tức là giáo sư đại học luật khoa Nghiêm Xuân Việt dịch ra tiếng Pháp (theo trí nhớ của người viết thì vào khoảng cuối thập niên 1950), đăng ở tập san Pen Club.  Bản dịch ra Anh văn do nhà văn James Banerian ở San Diego, California, Hoa kỳ, cho đăng tải trong tập Vietnamese Short Stories, đã xuất bản.  Bản dịch thứ ba là của một tác giả ở Tây Ðức. Và bản dịch thứ tư cũng ra tiếng Pháp là của Phan Thế Hồng với sự hợp tác của Danielle Linais ở Việt Nam.

Truyện Ba Con Cáo, cũng theo nhà xuất bản Văn Nghệ, được nhà văn Lê văn Hoàn ở San Francisco dịch ra tiếng Anh và đã đoạt giải nhất truyện ngắn quốc tế ở Manila, Phi luật tân.

   4.- Tác phẩm chưa xuất bản

Những feuilletons viết và đăng báo dưới bút hiệu khác trong thời gian 1951-1954 không được tác giả cho xuất bản.  Sau 1960 nhiều feuilletons ký bút hiệu BNL cũng không được xuất bản.  Khoảng 6 tiểu thuyết được các nhà xuất bản chọn lựa để in nhưng rốt cuộc đã không thực hiện và cũng không trả lại bản thảo.  Nói chung khoảng ba bốn chục feuilletons đã đăng trọn vẹn trên báo nhưng chưa được in thành sách.

Theo Nguyễn Q. Thắng (nhà xuất bản Văn Học Hà Nội) thì tới năm 1973 BNL còn 32 tác phẩm chưa in thành sách:

Phù Sa;  Ngụy Khôi;  Ðôi Giày Cũ Chữ Phạn;  Thuyền Trưởng Sống Lô;  Mà Vẫn Chưa Nguôi Hình Bóng Cũ;  Người Săn Ảo Ảnh;  Suối Ðổi Lốt; Trữ La Bến Cũ;  Bọn Xé Rào;  Cô Sáu Nam Vang;  Một Chuyến Ra Khơi;  Trọng Thuỷ - Mị…Ðường;  Sở Ðoản Của Ðàn Ông;  Luật Rừng (Tống Diên: nhan đề đầu tiên có lẽ là Luật Rừng Xanh khi còn đăng báo);  Cuồng Ca Thế Kỷ;  Bóng Ma Dĩ Vãng;  Gái Mẹ;  Khi Chim Lìa Tổ lạnh;  Ngõ 25;  Hột Cơm Ngô Chúa;  Lưỡi Dao Cùn;  Con Khỉ Ðột Trò Xiếc;  Con Quỉ Ban Trưa;  Quật Mồ Người Ðẹp;  Người Ðẹp Bến Ninh Kiều;  Bưởi Biên Hòa;  Giấu Tận Ðáy Lòng;  Quang Trung Du Bắc;  Xóm Ðề Bô (Tống Diên: khi đăng báo có tựa là Xóm Ðề Pô);  Hai Kiếp Nhả Tơ;  Muôn Triệu Năm Xưa;  Hổ Phách Thời Gian.

Theo thiển ý thì con số thực sự còn cao hơn nữa.  Chẳng hạn như tôi vừa phát hiện ra feuilleton có tựa là Thiếu Nữ Gâu Gâu đăng trên nhật báo SỐNG MẠNH ở Sàigòn vào năm 1970, mà không có bài viết nào có ghi truyện nầy trong bản liệt kê.  Như vậy, có nhiều khả năng là một số feuilletons của BNL đã bị các nhà viết văn học sử quên mất hoặc không tìm thấy.

   5.- Tác phẩm viết ở hải ngoại

a.-  Sửa Sai Cổ Sử I (về Việt Nam) dài 177 trang đánh máy.

b.-  Sửa Sai Cổ Sử II (về Ðông Nam Á) dài 214 trang đánh máy.  Cả hai quyển trên đây đều được ký bút hiệu Hồ Văn Huấn (tức là anagramme của Tô Văn Tuấn)

c.-  Trường Giang Cửu Long đăng trên VIỆT NAM NHẬT BÁO được ít nhất là 93 số thì BNL qua đời.  Dưới nhan đề “Trường Giang Cửu Long” có ghi câu “Trường Thiên Phóng Bút Của Bình-nguyên Lộc” .  Nội dung nói về địa lý, con người, phong tục, v.v… miền Tây Nam Việt.

d.-  Ðổ Xô Vào Nam  cũng đăng trên VIỆT NAM NHẬT BÁO, không được tác giả khẳng định là thể loại gì, nhưng nội dung nói về lịch sử nam tiến của dân tộc Việt Nam vào giai đoạn dân ta đã tới định cư ở miền đông Nam Việt.  Tác phẩm đăng dần dà trên từng số báo một, được gần khoảng 20 số, tới chương 5, thì tác giả qua đời.

e.-  Hồn Việt Lạc Loài, tiểu thuyết, chưa được đăng trên báo.  Bản thảo viết tay tới 57 trang thì dứt.  Ông viết chữ nhỏ li ti trên trang giấy khổ to, nên nếu in ra thì chắc cũng được trên 60 trang.  Có lẽ BNL viết tới đây thì mất.  Câu hỏi phải đặt ra là tại sao ông viết được một xấp dày như vậy mà không gởi đi đăng báo?  Không thể nói không ai thèm đăng feuilleton của ông cả, trong lúc có rất nhiều báo ở Cali thích đăng feuilleton của ông.  Giả thuyết rằng ông dự định viết xong rồi mới cho đăng cũng không vững, bởi lẽ bao năm qua ông không có thói quen đó, và đã là người chuyên viết feuilleton thì cứ viết tới đâu là gởi đăng báo tới đó.  Lời giải thích hợp lý duy nhất là, ông định viết sẵn trước một đoạn tiểu thuyết đủ cho năm mười số báo để phòng khi ông bịnh hoạn hoặc bận việc thình lình thì feuilleton đang đăng tải sẽ không bị gián đoạn.

f.-  Cà Phê Ôm Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, truyện dài đăng trên báo Phụ Nữ Tiểu Thuyết ở Cali  Truyện cũng đang dở dang thì BNL từ trần.

g.-  Sông Vẫn Ðợi Chờ, hồi ký đăng báo dở dang thì BNL mất.

h.-  Nếu Tôi Nhớ Kỹ , hồi ký gồm nhiều bài viết biệt lập mà một số đã đăng báo.

i.-  Một số bài viết đăng báo thuộc các thể loại truyện ngắn, hồi ký, “tìm biết”, “về nguồn”, ngôn ngữ học, dân tộc học, v.v….

------------------------------
TÁC PHẨM QUAN TRỌNG 01 02 03