B ̀ N H – N G U Y Ê N   L Ộ C

Cuộc Đời và Văn Nghiệp - Tống Diên - 01 02 03  - PDF

 

 

 

 

 

TỐNG DIÊN là thứ nam của nhà văn B́nh-nguyên Lộc, là người hiện bảo quản những tài liệu c̣n lưu lại sau khi nhà văn từ trần.  Căn cứ theo gia phả và hồ sơ quan trọng, ông đă điều chỉnh lại một số dữ kiện, v́ “tam sao thất bổn” hay v́ một lư do nào đó, đă bị phổ biến sai lạc, trong đó có một vài chi tiết “không đúng” do chính nhà văn đưa ra. BBT 


 

 

 

Tên thật :  TÔ VĂN TUẤN (07.03.1915  -  07.03.1987)  

Cha....... :  Tô Phương Sâm (1878-1971)

Mẹ.........:  Dương Thị Mẹo (1876-1972) 

Vợ .........:  Dương Thị Thiệt (1911-1988) 

Con........ : Tô Dương Hiệp (1935-1973),

Con........ : Tô Ḥa Dương (1937-2011),

Con........ : Tô Loan Anh (1939),

 Con........: Tô Mỹ Hạnh (1940),

Con........ : Tô Vĩnh Phúc (1947)




Trích thư của Tô Ḥa Dương, thứ nam
của B́nh-nguyên Lộc, gởi nhà văn Vinh Lan

 

 

 

 

I- SƠ LƯỢC VỀ TIỂU SỬ

1.-  Đại Cương

Theo giấy khai sanh, B́nh-nguyên Lộc (BNL) tên thật là Tô Văn Tuấn, sanh ngày 7-3-1915 tại làng Tân Uyên (từ năm 1920 trở đi thành quận lỵ của quận Tân Uyên), tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Ḥa, thuộc Đồng Bằng sông Đồng Nai, Nam Việt.  Thật ra BNL sanh ra ít nhứt là một năm trước ngày ghi trong giấy khai sanh, nghĩa là sanh vào năm 1914, c̣n ngày sanh không biết có đúng là ngày 7 tháng 3 hay không.  Ông sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà chỉ cách bờ sông Đồng Nai hơn một trăm thước thôi.  Chính con sông Đồng Nai nầy đă giúp ông chất liệu để hoàn tất một số tác phẩm như truyện ngắn “Đồng Đội” (trong Kư Thác), hồi kư “Sông Vẫn Đợi Chờ” (viết và đăng báo ở California), v.v….

Từ năm 1919-1920 ông theo học chữ nho với một ông đồ trong làng.  Trường học chỉ là một lều tranh.  Sau đó ông học trường Tiểu học ở Tân Uyên vào những năm 1921-1927.  Năm 1928 ông ở nhà luyện Pháp văn để thi vào Trung học (Enseignement primaire supérieur) Pétrus Trương Vĩnh Kư ở Sàig̣n, rồi từ 1929-1933 ông theo học trung học nầy và đậu bằng Thành Chung (Diplôme d´Études Primaires Supérieures) vào năm 1933. (Trong bản thảo một bài trả lời phỏng vấn, chẳng biết về sau có đăng báo không, BNL viết rằng ông không có bằng cấp chi cả.  Không rơ ông viết như vậy với dụng ư ǵ chớ thực sự ông có bằng Thành Chung)

Rời trường Pétrus Kư ông thi vào ngạch thơ kư hành chánh nhưng hơn một năm sau mới được tuyển dụng, v́ lúc đó thế giới đang ở thời kỳ kinh tế khủng hoảng.  Ban đầu ông phục vụ tại Kho Bạc Thủ Dầu Một, rồi sau đó thuyên chuyển xuống Kho Bạc Sàig̣n, sau nầy được cải danh là Tổng Ngân Khố.  Năm 1944, BNL bịnh thần kinh nên xin nghỉ dài hạn không lương, và từ đó về sau không trở lại với nghề công chức nữa (thời gian 1970-1975 ông làm Hội Viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam, nhưng đây không phải là công việc của người công chức)

Tản cư về quê năm 1945, BNL hồi cư về quận Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một vào cuối năm 1946,  ba năm sau ông xuống Sàig̣n và cư ngụ hẳn ở đó tới năm 1985.  Tháng 10 năm nầy ông được xuất ngoại theo chương tŕnh đoàn tụ gia đ́nh.  Ông sang Mỹ định cư ở Rancho Cordova, một city nằm trong thủ phủ Sacramento của Tiểu bang California Hoa kỳ và từ trần ở đó ngày 7-3-1987 v́ bịnh huyết áp cao.  Ông được an táng ngày 14-3-1987 tại nghĩa trang Sunset Lawn.

   2.- Sinh hoạt văn nghệ

BNL đang viết dang dở tập hồi kư “Nếu Tôi Nhớ Kỹ” th́ qua đời.  Trong tập đó có bài Ông Bà Bút Trà kể lại trường hợp nào ông bà Bút Trà gia nhập báo giới rồi kết hôn với nhau, c̣n BNL th́ lại dấn thân vào con đường viết văn.  Số là vào khoảng năm 1930, 1931, 1932… có một bà phú thương Việt Nam tên Tô Thị Thân thay mặt người chồng Hoa Kiều, tục danh là chú Xồi, để đứng tên làm chủ 20 tiệm cầm đồ tại Sàig̣n.  V́ bị báo chí Sàig̣n thuở ấy chỉ trích là gian thương, là phường cho vay cắt cổ, v.v…, bà muốn ra một tờ báo để tự binh vực nên bà t́m người phụ trách tờ báo đó.  Bà giao công việc t́m kiếm nầy cho người thơ kư kế toán của bà tên Tô Văn Giỏi, vốn là anh họ của BNL.  Ông Giỏi nhờ BNL t́m kiếm người làm báo.  BNL thuở ấy chưa biết viết văn nhưng rất ham thích văn nghệ, ông có quen biết hai người đàn anh văn nghệ là Lê Hoằng Mưu bút hiệu Mộng Huê Lầu và Trương Quang Tiền, không có bút hiệu.  BNL ngỏ ư nhờ hai ông nầy giúp bà Tô Thị Thân làm báo theo tiêu chuẩn do chính bà đề ra là viết nhựt tŕnh thiệt giỏi và ăn rẻ.  Hai ông từ chối, có lẽ tự xét ḿnh không đáp ứng được tiêu chuẩn thiệt giỏi mà ăn rẻ của bà Thân.  Tuy từ chối nhưng ông Trương Quang Tiền lại giới thiệu một người bạn của ông là ông Bút Trà, lúc ấy đang gặp khó khăn tài chánh.  Ông Bút Trà tuy chưa hề làm báo nhưng cũng nhận đảm trách tờ Sàig̣n Họa Báo cho bà Tô Thị Thân.  Ít lâu sau, bà Thân ly dị ông chồng Hoa Kiều và kết hôn với ông Bút Trà.  Về phần BNL, do việc t́m kiếm người làm báo đó mà ông bắt đầu tới lui với các văn nghệ sĩ, kư giả, v.v… Ḷng ưa chuộng văn nghệ được khơi động thêm lên, nó khiến ông tập viết văn để sau nầy trở thành nhà văn thực sự.

Trong bài  “Hăm Bảy Năm Làm Báo cũng trích từ tập hồi kư Nếu Tôi Nhớ Kỹ nói trên đây, BNL cho biết ông viết văn, viết báo từ năm 1942 nhưng đến năm 1946 mới làm báo.  Bản thảo bài trên đây đă thất lạc, chỉ c̣n lại trang đầu, nhưng có thể đoán hiểu ư ông muốn nói đến năm 1946 ông mới nhúng tay vào những công việc có tính cách kỹ thuật để cho một tờ báo h́nh thành được như chọn lựa, sắp xếp, tŕnh bày bài vở, v.v….  Như đă nói ở trên, BNL bắt đầu viết văn viết báo từ năm 1942.  Lúc ấy ông cộng tác với báo Thanh Niên của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.  Trong ban biên tập c̣n có Xuân Diệu, Huy Cận (hiện diện trong ban biên tập trước BNL), Mặc Đỗ, v.v…  Chính BNL đă đề nghị ban biên tập đăng bài thơ “Mă Chiếm Sơn” của một độc giả mới gởi tới.  Độc giả đó là Tố Hữu.  Sau đó ít lâu Tố Hữu cũng vào ban biên tập Thanh Niên luôn.  Sau 1954 Tố Hữu xuất bản tập thơ “Từ Ấy” trong đó có bài “Mă Chiếm Sơn” . (Các chi tiết trên đây do BNL kể lại cho gia đ́nh nghe).

Từ năm 1948 BNL xuống định cư hẳn ở Sàig̣n nhưng không trở lại nghề công chức nữa và sinh sống bằng nghề viết báo, làm báo.  Ông cộng tác với các báo Lẽ Sống (với bút hiệu Phong Ngạn, Phóng Ngang, Phóng Dọc, v.v…), Đời Mới, Tin Mới, v.v…

Năm 1957, 1958 ông cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn Hóa Ngày Nay (của Nhất Linh) và làm chủ nhiệm tuần báo Vui Sống năm 1959. Năm 1960-1963 ông phụ trách trang văn nghệ của báo Tiếng Chuông, rồi năm 1964-1965 làm chủ biên  nhựt báo Tin Sớm.

Từ năm 1965-1975 ông chuyên viết feuilleton cho các nhựt báo.  Ngay từ những năm 1951, 1952, BNL đă có viết feuilleton rồi.  Phần lớn những feuilletons đó có cốt truyện thuộc loại chuyện phiêu lưu, dă sử, v.v… và được ông kư dưới bút hiệu khác như Phong Ngạn, Tŕnh Nguyên, v.v….  Đến năm 1956 BNL mới bắt đầu viết feuilleton có cốt truyện t́nh cảm và kư bút hiệu BNL luôn.  Những năm 1960-1975 là thời kỳ ông viết feuilleton nhiều nhứt.  Trước 1975, tạp chí VĂN ở Sàig̣n có đăng bài phỏng vấn ông do Nguyễn Nam Anh, tức nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thực hiện.  Đáp câu hỏi « Ông có phải là nhà văn có tiểu thuyết đăng nhiều ở các nhật báo không ? », BNL cho biết là vào năm 1957 ông viết 11 feuilletons mỗi ngày, nhưng sau đó chính Lê Xuyên và An Khê mới là những tác giả dẫn đầu về số lượng feuilletons.  An Khê có năm viết tới 12 feuilletons mỗi ngày, một con số mà theo BNL chưa ai vượt qua nổi.  Riêng theo trí nhớ của tôi th́ khoảng thời gian BNL viết feuilleton nhiều nhứt là 1962-1969.

Từ năm 1975-1985 ông nằm nhà, không tham gia các sinh hoạt xă hội và văn nghệ với lư do bị bịnh kiệt sức và huyết áp cao.

Ông định cư ở Mỹ từ tháng 10 năm 1985, bịnh đỡ nhiều nhưng chưa b́nh phục hẳn.  Tuy nhiên, ông đă viết lách trở lại và đăng báo nhiều bài viết thuộc các thể loại truyện ngắn, hồi kư, tiểu thuyết, “t́m biết”, “về nguồn”, ngôn ngữ học, dân tộc học, v.v….  Một số tiểu thuyết của ông đang được viết và đăng báo dở dang th́ ông qua đời ngày 7-3-1987.  Những bản thảo chưa đăng báo c̣n được gia đ́nh ông lưu giữ nhưng phần lớn đă thất lạc.

   3.- Sinh hoạt gia đ́nh và xă hội

a.-  BNL mắc bịnh thần kinh năm 1944, năm sau mới khỏi bịnh.  Nhưng từ năm 1950 đến năm 1964 ông trở nên cực kỳ khó tính, thường xuyên gây căng thẳng trong gia đ́nh.  Chẳng rơ đây có phải là một dạng thái bịnh tâm thần loại nhẹ biến chứng từ bịnh thần kinh năm 1944 không.  Chỉ biết là BNL cứ đinh ninh bản thân ông không thể mắc bịnh tâm thần, chỉ có vợ, con, cháu và bạn bè ông mới có thể mắc bịnh nầy mà thôi (thực ra, ông quả có hai người cháu và vài bạn làng văn mắc bịnh tâm thần).  Do đó ông ưa hỏi thăm về bịnh tâm thần để cứu chữa cho… thân nhân và thân hữu!  Cũng v́ quan tâm tới bịnh tâm thần – mà ông nghĩ là của người khác chớ không bao giờ là của ông cả - BNL đă cùng người trưởng nam là bác sĩ Tô Dương Hiệp, giám đốc Bịnh Viện Tâm Thần Biên Ḥa, soạn thảo một công tŕnh biên khảo lấy tựa là Khinh Tâm Bịnh Và Sáng Tác Văn Nghệ.  H́nh như một vài bài trong tập biên khảo nầy đă được đăng tải trên đặc san của Bịnh Viện Tâm Thần Biên Ḥa cùng với nhiều tranh vẽ và văn thơ của các văn nghệ sĩ mắc bịnh tâm thần đang nằm điều trị tại bịnh viện nói trên (như Bùi Giáng, Nguiễn Ngu Í, v.v…).  Tác phẩm “Khinh Tâm Bịnh Và Sáng Tác Văn Nghệ” không biết đă hoàn tất chưa – nhưng chắc chắn là chưa xuất bản – th́ BS Tô Dương Hiệp từ trần và bản thảo đă thất lạc.

CHÚ-THÍCH: BBT nhận được ngày 06.10. 2011 một đoạn văn bổ túc vào tiểu sử BNL do ông Tô Vĩnh Phúc, thứ nam của nhà văn, đại diện gia đ́nh gởi đến. Để rộng đường dư luận chúng tôi xin ghi lại sau đây nguyên văn thư của ông Tô Vĩnh Phúc:

Theo lời những người con sau và các cháu của nhà văn B́nh-nguyên Lộc, ông chưa bao giờ được chuẩn bệnh tâm thần hay bệnh điên cả. B́nh-nguyên Lộc rất tỉnh táo và sáng suốt, tuy ông có sức khỏe kém.Những tác phẩm có đề tài về bệnh tâm thần đều được sáng tác vào những năm người con trai trưởng của ông, bác sĩ Tô Dương Hiệp, học và thực hành trong ngành nầy. BNL ưa thích lưu tâm đến tâm t́nh và t́nh cảm của con người, dưới tất cả mọi h́nh thức và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Thế giới người điên là một cơi đời đặc biệt đối với ông.   Sự nghiệp của người con của ông đă tạo nguồn cảm hứng và cho ông cơ hội khai thác những dữ kiện về bệnh tâm thần để sáng tác.

Sau khi bác sĩ Tô Dương Hiệp qua đời, trong sự đau buồn, BNL không viết đến đề tài bệnh tâm thần nữa.

Tô Vĩnh Phúc

b.-  Khi c̣n ở Việt Nam, BNL thường giao du thân mật với Nguyễn Ang Ca, An Khê, Hà Liên Tử.


xem tiếp  VĂN NGHIỆP  

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

| đầu trang | trang đầu | tiểu sử | truyện dài| truyện ngắn | nghiên cứu| bài viết | vui sống |