NGHIÊN CỨU

 

                                   THƯƠNG THẢO VỚI GS TRẦN NGỌC NINH                                  

                                    về hai loại từ Cái Con

 

Trong quyển  “Nguồn gốc Mă-Lai của dân tộc Việt-Nam”, chúng tôi đă chứng minh rằng tất cả các dân tộc ở Đông Nam Á đều thuộc một chủng độc nhứt, chủng Mă-Lai, kể cả đồng bào Thượng trên Cao Nguyên cũng thế.

 

Nhưng chủng Mă-Lai không phải chỉ có bấy nhiêu đó:  Đại-hàn, Nhựt-bổn, Nam-Ấn, thổ dân châu Mỹ cũng đều thuộc chủng Mă-Lai hết.

 

Chúng tôi đă kiểm soát chủ trương của chúng tôi bằng ba khoa: tiền-sử-học, chủng-tộc-học và ngôn-ngữ đối chiếu.

 

Khi học ngôn ngữ của các dân tộc nói trên, chúng tôi có nhận thấy một điều dị kỳ là trừ ngôn ngữ Việt-Nam ra, c̣n th́ không có nhóm Mă-Lai nào có loại từ Cái hết, và có nhiều dân tộc không hề có loại từ, bất cứ loại từ nào.

 

Theo nghiên cứu của giáo sư Trần-Ngọc-Ninh (Bách Khoa số 349  15-7-71) th́ Cái cây chẳng hạn, là một từ, tức là một đơn vị bất khả-phân, và như thế, Cái không c̣n là loại từ nữa, như chúng tôi đă nói.  Nhưng chúng tôi hơi nghi ngờ v́ Việt-ngữ, qua cuộc kiểm soát của chúng tôi, cuộc kiểm soát đă dùng để viết quyển sách nói trên, chỉ là Mă-Lai-ngữ một trăm phần trăm, mà không có nhóm Mă-Lai nào có những từ có Cái đứng trước hết.

 

Thí dụ ta nói Cái thang th́ Mă-Lai, Nam-Dương nói Tanga, Chàm nói Thang giơ, Nhựt-Bổn nói Tana chớ không hề nghe họ nói Cái Tanga, Cái thang giơ, Cái tana bao giờ.  Lại thí dụ ta nói Cái cửa sông th́ Mă-Lai nói Kưala sôngai, tức là không có Cái đứng trước.

 

Mà không riêng ǵ Mă-Lai, Chàm hay Nhựt-bổn  ǵ cũng thế cả, không ai có Cái hết.

 

Như vậy ta phải hiểu rằng Cái của Việt-Nam là loại từ, mà là loại từ mới sáng tác về sau, do một ảnh hưởng ngoại lai, chớ gốc tổ không có, mà các nhóm khác, tuy có chịu ảnh hưởng ngoại lai, cũng không có, v́ Cái, sở dĩ nảy sanh ra trong Việt-ngữ chỉ v́ một ngộ nhận của dân chúng Việt-Nam, mà khi nói đến ngộ nhận th́ phải hiểu rằng dân tộc khác không cùng chung ngộ nhận với ta nên họ không hề có Cái.

 

Chúng tôi t́m học, mà thấy rằng Cái chỉ mới xuất hiện sau Mă-Viện thôi, chớ không có lâu đời lắm, mà, như đă nói, chỉ do một sự ngộ nhận của dân chúng Việt-Nam.

 

Nên biết rằng trong đạo quân viễn-chinh của Mă-Viện, tuy có quân Dạ Lang, nhưng chủ lực quân vẫn là người Hoa-Bắc, v́ các tỉnh Quảng-Đông, Phúc-Kiến chỉ mới bị nhà Tần chinh-phục trước đó không lâu, và họ chưa biến thành Tàu, và nếu có mặt họ, họ cũng nói một thứ tiếng Tàu ba trợn.  Quân Dạ Lang cũng không phải là người Tàu.

 

Vậy ngôn ngữ được nói quanh các trại quân, phải là Quan-thoại.  Mà Quan-thoại th́ có danh từ (họ cũng đọc là Cá, các nhà nho ta cũng đọc như thế), nhưng danh từ ấy không phải là loại từ, nó là danh từ, và có nghĩa là Đơn-vị.

 

Ta cứ nh́n vào một gia-đ́nh Quảng-Đông ở Sàig̣n th́ rơ.  Dân Quảng-Đông cũng nói tiếng Tàu, nhưng đọc bậy bạ cả, y hệt như các nhà nho ta chớ không bao giờ có ngôn ngữ Quảng-Đông như ai cũng tưởng.

 

Một ông gia-trưởng Quảng-Đông chia bánh cho con ông ta, và ông ta nói: Dzách cô, lượng cô, xám cô, v.v....

 

đọc sai chớ không có ǵ, và ông ta muốn nói: “Một đơn vị, hai đơn vị, ba đơn vị” đấy.

 

Dân Lạc-Việt đă nghe lính Hoa-Bắc nói: Yi cá, lèng cá bằng Quan-thoại, và ngộ nhận rằng, trước tên các món vật, phải có từ (đọc sai là Cái) mới là hay.  Thế rồi ta chấp nhận từ ấy, nó biến thành loại từ của ta, và đồng thời biến hẳn văn phạm ta, vốn không có loại tự Cái bao giờ cả, trước Mă-Viện.

 

Nếu không hiểu như chúng tôi, không sao cắt nghĩa nổi tại sao không có nhóm Mă-Lai nào có Cái hết, trừ Mă-Lai Việt-Nam.

 

Trước đây, ta không biết ta thuộc chủng nào, và tin theo ông H. Maspéro rằng là ta là một chủng riêng biệt, không dính với ai cả, th́ nếu chỉ có ta là có loại từ Cái, không làm ai thắc mắc hết.  Nhưng nay biết chắc một trăm phần trăm rằng ta là Mă-Lai, và ba bốn mươi dân tộc khác nữa cũng là Mă-Lai, th́ sự kiện chỉ có một ḿnh ta có loại từ đó, phải được đặt thành vấn đề nghiên cứu và được giải đáp thỏa đáng.

 

Cái không có tánh cách “thái cổ” chút nào hết, như ta vừa thấy.

 

Chúng tôi nói dân chúng học tiếng Tàu, chịu ảnh hưởng Hoa-ngữ quanh các trại quân, không phải là làm giả thuyết đâu.  Hiện nay thừa ngữ chánh thức của nước Ấn Độ là ngôn ngữ Hindi.  Đó là một ngôn ngữ dị kỳ, gồm tiếng Á-Rập cộng với tiếng Ba-Tư, chớ không có danh từ Ấn Độ nào trong đó cả.  Sở dĩ ông Nê Ru, đă tranh đấu cho ngôn ngữ đó được cái địa-vị ưu tiên hạng nhất, v́ ông là người thực tế, mà ngôn ngữ đó được trên một trăm triệu người Ấn biết.

 

Ngôn ngữ Hindi gốc là ngôn ngữ Ourdou.  Mà Ourdou là danh từ Ấn Âu thỉ-tổ của danh từ Horde.  Horde có nghĩa là một bầy, một đám người vô tổ chức.  Người Ấn bị xâm lăng thuở xưa, v́ ghét bọn xâm lăng, nên gọi họ là horde chớ thật ra th́ quân xâm lăng rất văn minh, bởi Á-Rập hay Ba-Tư ǵ cũng đều là dân tộc văn minh.

 

Vậy một trăm triệu dân Ấn đă chịu ảnh hưởng của các Horde xâm lăng đó và đâm ra nói toàn tiếng Á-Rập và tiếng Ba-Tư, nhưng nói sai bậy bạ cả, chẳng c̣n ǵ là Á-Rập và Ba-Tư nữa hết, y hệt như dân ta biến của lính Hoa-Bắc thành Cái, nhưng dùng sai, danh từ của người ta, dân ta lạm dụng đặt trước bất kỳ danh từ nào khác của ta, khiến nó biến thành loại từ.  Một trăm triệu người Ấn đă lấy ngôn ngữ của kẻ xâm lăng th́ dân Lạc-Việt có lấy danh từ để biến thành loại từ Cái là chuyện dĩ nhiên.

 

Ta lại c̣n một danh từ Cái rắc rối nữa, tưởng cũng nên nói rơ ra, mặc dầu danh từ nầy không gây ngộ nhận bao nhiêu.

 

Khi người Tàu nói họ đi Cái xị, tức đi Thị, đi Chợ, th́ Cái ở trong trường hợp nầy, hoàn toàn không liên hệ đến những Cái khác.  Cái ở đây là danh từ Tàu mà ta đọc sai là Nhai và có nghĩa là Đường Phố (Rue).

 

Thị của Tàu, không phải chỉ có nghĩa là Chợ, mà c̣n có nghĩa là thành phố.  Vậy đi Cái xị là đi Nhai thị, tức đi qua các phố của thành phố, y hệt như Việt-Nam nói Đi phố.  Đi Cái xị của Tàu, không hề có nghĩa là Đi Cái Chợ đâu.

 

Hiện ở Chợ lớn, ngoài các bảng tên phố của nhà nước, người Tàu thường đặt một bảng nhỏ đề chữ Tàu, để đồng bào họ biết đâu là đâu.  Đại khái có một ngơ hẻm mang tên là Ô-Y-Hạng, c̣n đường Lư-Nam-Đế nguyên vào thời Pháp thuộc tên là Rue de Canton, th́ nay nó mang tên chánh thức của nhà nước là đường Lư-Nam-Đế, nhưng có bảng nhỏ chữ Tàu để là Quảng Đông Nhai, mà họ đọc là Quảng Tống Cái.

 

Danh từ Cái nầy ta không có dùng trong Việt-ngữ, mà chỉ biến thành Nhai trong Hán-Việt mà thôi, nhưng đôi khi cũng gây ngộ nhận v́ nghe người Tàu nói rằng họ đi Cái xị, là ngỡ họ đi Cái thị, tức Cái chợ.

 

Nhựt-bổn bị mất ngôn ngữ đến hơn 60 phần trăm.  Hiện nay họ chỉ giữ được có trên 30 phần trăm Mă-Lai-ngữ, c̣n th́ họ dùng tiếng Tàu cả (nhưng đọc sai, cố nhiên).  Thế nghĩa là họ cũng bị ảnh hưởng ngoại lai, và cái ngoại lai ấy lại đồng chủ nhơn với cái ngoại lai nơi xă-hội ta, thế mà họ vẫn không có Cái, chỉ v́ hai dân tộc không thể ngộ nhận y hệt như nhau.

 

Giáo sư Trần-Ngọc-Ninh lại bảo rằng Cái Con không thể giao hoán với nhau.  Nhưng rơ ràng ca dao ta hát:

 

    Cái c̣, cái vạc, cái nông.

 

Chẳng những Cái đă giao hoán với Con vật, mà giao hoán cả với Con người nữa.  Đó là dấu hiệu lạm dụng của buổi đầu ngộ nhận, ta dùng Cái loạn xà ngầu, sau rồi ta mới hạn chế nó để dùng làm loại từ chỉ đồ vật bất động mà thôi.

 

Chúng tôi lại có bằng chứng rằng dân Lạc bộ Trăi, hồi thời Trung cổ nói Con nhà, Con đá, Con trời, thay v́ nói Cái nhà, Ông trời, Cục đá như ngày nay.

 

Vậy Cái là loại từ khả phân, và chỉ mới có mặt sau Mă-Viện mà thôi, và giao hoán được với Con.

 

C̣n Con ?  Loại từ Con th́ dân Lạc bộ Chuy và bộ Trăi có – Xă hội Việt-Nam gồm cả ba thứ Lạc, nên dĩ nhiên, là có loại từ Con.

 

Nhưng đó cũng là loại từ mới xuất hiện về sau, tuy trước loại từ Cái, nhưng vẫn không lâu đời lắm.  Không có ǵ là thượng-cổ cả.

 

Tới đây, chúng tôi nói đến ba thứ dân Lạc mà cổ thư Trung-Hoa đă ghi chép, nói hơi dài, có vẻ lạc đề, nhưng không nói th́ không ai mà hiểu được Lạc bộ Chuy là dân nào, Lạc bộ Trăi là dân nào.  Nhưng chúng tôi cố nói tắt chừng 4 trang viết tay, để bạn đọc khỏi sốt ruột.

 

Từ năm 1918 đến nay, thiên hạ căi nhau về các tự dạng Lạc hơi nhiều, nhưng xem ra, chưa có nhà học giả, sử gia nào biết Lạc là ǵ.

 

Nhưng người Tàu đời xưa th́ lại biết quá rơ.

 

Khi mà các cổ thư Trung-Hoa trỏ dân tộc ta bằng ba chữ Lạc khác nhau, Lạc bộ Trăi (tức bộ Sại), Lạc bộ Mă và Lạc bộ Chuy th́ họ nêu ra một kỳ công về chủng-tộc-học mà hai ngàn năm sau, khoa học mới khám phá ra.

 

Thế nên có một dạo, nhiều học giả nổi lên bác bỏ sử-gia Nguyễn-Phương ở ngay trong tạp chí Bách Khoa nầy khi sử-gia họ Nguyễn cho rằng các sử-gia Tàu cổ thời, không biết Lạc là ǵ, nên bối rối, t́m cách giải thích gượng gạo, sai cả.

 

Quí vị học giả ấy không tin là thế, nhưng quí vị đó cũng không biết rơ lắm Lạc là ǵ, và tại sao Tàu lại viết ba chữ Lạc khác nhau, và nhất là chỉ dân ta bằng cả ba tự dạng.

 

Dưới đây là công bố của khoa tiền-sử-học, đă làm việc xong ở Á-Đông.  Nhưng trước khi tóm lược công bố ấy, tưởng cũng nên biết qua địa-lư của Tàu.

 

Bên Tàu (Hoa-Bắc) có đến hai con sông Lạc.  Con sông thứ nhứt, viết với bộ Chuy, chảy từ Thiểm Tây vào xứ Thục.  Đó là địa bàn cổ thời của dân Lạc bộ Chuy, mà Lạc bộ Chuy, được hai khoa tiền-sử-học và chủng-tộc-học truy ra rằng họ chỉ là rợ Khuyển Nhung và rợ Khel (Tàu phiên-âm là Khương).  Hai thứ rợ nầy bị Tàu đánh đuổi (Tần Mục Công và Tần Hiến Công) nên nam thiên, biến thành người Môn, người Khơ Me (tức Khel) và người Miến-Điện.

 

Con sông Lạc thứ nh́ ở Bắc Hà-Nam, trên sông Hoàng-Hà, viết với bộ Thủy.  Lạc thư có lẽ xuất phát từ đó, nhưng nơi đó, không phải là địa bàn của tổ tiên ta.  Địa bàn của tổ tiên ta ở cách đó vài mươi cây số, tại lưu-vực sông Bộc và dưới đời nhà Chu, được Tàu gọi là dân Bách-Bộc.  Danh xưng Bách-Việt chưa xuất hiện vào thời mà sách đời Chu nói đến Bách-Bộc.  (Các học giả ta giành giựt Hà đồ Lạc thư với Tàu, cho rằng sách đó của dân ta, chắc phải lui bước, v́ dân ta ở sông Bộc chớ không phải ở sông Lạc.  Vả lại sông Lạc nầy viết với bộ Thủy, c̣n dân ta viết với ba bộ khác hơn (quên nói rằng sông Lạc bộ Chuy, về sau viết như Lạc là Rơi, Rụng, nhưng xưa hơn, Tàu viết: Các + Chuy).

 

Nhưng đồng thời các cổ thư Trung-Hoa cũng lại cho ta biết rằng dân Bách-Bộc có một nhóm tên là Lạc-Địch, Lạc viết với bộ Trăi.

 

Thế là đă có hai thứ Lạc.  Nhưng họ có là tổ tiên của ta hay không th́ ta sẽ rơ.

 

Cổ thư Trung-Hoa lại cho biết rằng Lạc-Địch, di cư đến một bán đảo kia mà về sau gọi là Đại-Hàn, và biến thành rợ Tam-Hàn.

 

Câu chuyện nầy xảy ra dưới trào nhà Ân mà rợ Tam-Hàn đă lập ra ba tiểu-vương-quốc là Cao Cú Lệ tức Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La (có sách viết là Bách Tề).  Tam-Hàn là ba thứ dân Hàn làm chủ của ba tiểu-vương-quốc đó, và họ vốn là Lạc bộ Trăi.

 

Nhưng đến đời Tây Chu th́ th́nh ĺnh Tàu gọi dân Tam-Hàn một cách khác hơn, không là Lạc-Địch, cũng không là rợ Tam-Hàn mà là rợ Lai (Lai Di).  Dân đó tự xưng là ǵ, chưa ai biềt, chỉ thấy là Tàu thay đổi lối gọi mà không giải thích, ta thử đặt ra giả-thuyết nầy.  Đó là tên phiên-âm, và Tàu đă phải mất nhiều ngàn năm mới phiên-âm thật đúng, từ Lạc đến Lai.

 

Giả thuyết trên đây có bằng chứng cụ thể trong thư tịch Trung-Hoa v́ từ đời Hán đến đời Minh, người Tàu phải mất sáu trăm năm mới phiên-âm đúng tên của nước Cao-Miên, mà đó là chuyện về sau mà họ đă văn minh lắm rồi.  Quả thật thế, nước ấy, ban đầu được phiên-âm là Cam-Bốt-Trí rồi Cam-Phá-Giá, và tên cuối cùng là Giản-Phố-Trại, và được dùng đến ngày nay.  Giản-Phố-Trại, đọc theo Quan-thoại th́ giống Camboja hơn hai danh xưng trước.  Từ 10 năm nay, nước đó tự xưng hơi khác là Cam-Bu-Chia, nhưng Tàu không buồn phiên-âm nữa v́ Giản-Phố-Trại đă giống rồi.

 

Ta thấy đó, sự phiên-âm các tên dân, tên nước của người Tàu, không phải thoạt tiên là đúng ngay đâu.

 

Và như vậy ta phải hiểu rằng là dân đó tự xưng là Lai, hoặc ǵ ǵ Lai đó, và khi phiên-âm đúng từ đời Tây Chu, th́ Tàu không sửa đổi nữa, y như họ đă không sửa đổi Giản-Phố-Trại nữa.

 

Cũng cứ vào đời nhà Ân, họ biết rơ hơn một thứ dân ở Hoa-Nam mà trước đó họ gọi là Thất Mân.  Nhờ biết rơ, nên họ gọi khác, gọi dân đó là Lạc, nhưng họ viết với bộ Mă.  Có lẽ đến đời Tây Chu, họ cũng biết Lạc bộ Mă là rợ Lai, nhưng họ không buồn phiên-âm lại v́ bọn Lạc đó đang bị họ nhắm làm cái đích thôn tính và đồng hóa, họ không thèm biết ǵ thêm.

 

Hơn thế, Lạc bộ Mă, có thể đọc là Mà Ló, mà Mà Ló đích thị là Mă-Lai, tức gọi dân đó là Lạc với bộ Mă là đúng rồi, không cần phải đổi ra là rợ Lai làm ǵ nữa như đối với Lạc bộ Trăi.

 

Những sự kiện trên đây, có ăn khớp với khoa khảo tiền-sử chăng?  Có, nó ăn khớp một cách kinh dị.  Và đây là kết quả của khoa khảo tiền-sử của Á Châu được ông G. Coedès công bố từ năm 1962:

 

1.- Cách đây năm ngàn năm, không biết từ đâu và không biết v́ lẽ ǵ, dân Mă-Lai di cư đến Đại-Hàn, đến Nhựt-Bổn, đến Đài-Loan, đến cả Việt-Nam và đến đảo Célèbes ở Nam-Dương.  Đồng thời họ cũng di cư đi Đông Ấn độ, nhưng đến nơi, họ lại rẽ sang hướng Đông để vào Đông-Dương (Đó là Môn, Miến-Điện và Khơ Me).

 

2.- Cách đây 2500 năm, từ Hoa-Nam, chủng Mă-Lai di cư đến các nơi mà Mă-Lai Hoa-Bắc đă di cư, và chiếm trọn Nam-Dương chớ không riêng ǵ đảo Célèbes nữa.

 

Chúng tôi tóm lược đơn sơ quá, 100 phần chưa đưa ra có 1, nhưng bấy nhiêu đó, đủ cho thấy ở lưu vực sông Hồng-Hà, ngôn ngữ là ngôn ngữ của ba thứ Lạc, Lạc bộ Trăi di cư từ Đông Bắc Trung-Hoa, Lạc bộ Chuy, từ Tây Trung-Hoa, và Lạc bộ Mă từ Hoa-Nam, và đại khái Lạc bộ Chuy là Môn, Miến-Điện, Cao-Miên, và các ông Tàu quá giỏi, họ trỏ ra bằng ba chữ Lạc khác nhau, thoạt trông như là họ dốt lắm, nhưng quả thật ở xứ ta có đủ cả ba thứ, như ngôn ngữ đă cho thấy.

 

Các nhà khảo tiền-sử không hề biết các cổ thư Trung-Hoa ấy, nhưng họ làm việc, lượm được kết quả ăn khớp với các cổ thư Tàu.

 

Chúng tôi xin trở về loại từ Con, Lạc bộ Chuy là Môn, Cao-Miên và Miến-Điện có loại từ Con, Việt-Nam và đồng bào Thượng là Lạc bộ Trăi cũng có loại từ Con.  Nhưng họ cũng chỉ mới có đây thôi, và chúng tôi có chứng tích không thể chối căi.

 

Đó cũng là vay mượn nhưng vay mượn của một nhóm Mă-Lai, khác Chi với Chi Lạc, Chi đó là Chi Âu mà ngày nay ta gọi là Thái, chớ không phải vay mượn của Tàu.

 

Trong ngôn ngữ Thái, Con là danh từ và có nghĩa là Người, chớ không bao giờ là loại từ.

 

Chúng tôi đi sâu vào Việt-Ngữ, Cao-Miên-ngữ và thấy rằng hai Chi Lạc bộ Chuy và bộ Trăi đă biến danh từ Con của Chi Âu để làm loại từ, trước khi có loại từ Cái, nhưng sự vay mượn cũng không lâu đời lắm.

 

Ta cứ nh́n kỹ vào từ ngữ Người ta th́ đủ thấy sự vay mượn và biến thể ấy rồi.  Quả thật thế, Người ta có nghĩa là Người khác, chớ không phải là ta, tức là Ta khác đấy.  Như vậy danh từ Người ban đầu, phải chỉ có nghĩa là Khác mà thôi, chớ không hề có nghĩa là Người.  Mà đó là tĩnh-từ.

 

Danh từ chung cho cả khối Mă-Lai, nhứt định phải là Con, nhưng Mă-Lai Thái c̣n giữ được, c̣n các chi Lạc th́ biến bậy cả.  Con chó hóa ra Người chó.  Thật là dị kỳ.

 

Tuy nhiên chi Lạc không đánh mất luôn danh từ Con đâu, nó c̣n tồn tại trong Con trai, Con gái, có nghĩa là Người trai, Người gái đấy.

 

Chúng tôi bắt gặp sự vay mượn và biến nghĩa của Con trong ngôn ngữ của người Mạ.  Người Mạ là đồng bào Thượng trên Cao Nguyên Lâm Đồng, họ cũng thuộc Chi Lạc bộ Trăi như ta (nhưng các ông Tây đă nói liều rằng họ là Cao-Miên).

 

Trong ngôn ngữ Mạ, Con được dùng như danh từ và có nghĩa là Người y như nơi người Thái, nhưng nó cũng được dùng như loại từ, giống hệt Việt-Nam.  Đó là chứng tích chi Lạc vay mượn của chi Thái và biến nghĩa chưa xong và chứng tích đó đánh dấu thời điẻm vay mượn của chi Lạc, thuở mới vay mượn th́ Con, được dùng như thế đó, tức vừa là danh từ có nghĩa là Người, vừa là loại từ.

 

Dấu vết thời gian c̣n nguyên vẹn trong ngôn ngữ Mạ.  Họ lạm dụng Con y hệt ta lạm dụng Cái để gọi Cái C̣, Cái Vạc, Cái Nông, v́ họ nói Con Trời, Con Đá, Con Cây.

 

Dấu vết xưa, c̣n đủ cả, miễn là ta chịu khó bỏ công ra học hỏi.

 

Có lẽ xưa kia, thuở ta ở vào tŕnh độ của người Mạ ngày nay, ta cũng nói, con trời, con đá, con cây, y hệt như người Mạ.  Đó là sự dốt của kẻ vay mượn, dùng không đúng lại quá lạm dụng.

 

Nhưng kể từ thời nào, ta biến tĩnh-từ Ngựi, có nghĩa là Khác, thành danh từ chỉ Con người th́ thật là truy không ra, chỉ biết hiện nay tất cả Mă-Lai gốc Hoa-Bắc, tức Lạc bộ Trăi và Lạc bộ Chuy (trừ Chi Âu) đều có danh từ Người, có biến dạng chút ít tùy theo mỗi dân tộc, mà không c̣n danh từ Con nữa.

 

Con, trong Con gái, Con trai, cũng chỉ là Người gái, Người trai mà thôi, tức là tàng tích Con của đại khối Mă-Lai, c̣n sót lại ở độc một trường hợp, nơi Chi Lạc.

 

(Và cũng nên nói rơ rằng Trai Gái, hồi thượng cổ, nơi Chi Lạc, chỉ có nghĩa là Đực Cái.  Hiện nay người Việt thượng cổ c̣n sống sót ở đèo Mụ già, và họ dùng hai tiếng Trai và Gái để chỉ Đực và Cái đấy).

 

Tóm lại, chủng Mă-Lai không có loại từ thuở ban sơ.  Họ chỉ mới có về sau, không lâu đời lắm và dấu vết sáng tạo loại từ c̣n mới rành rành trong các xă hội gốc Mă-Lai.

 

Loại từ Tu nơi người Thái (có nghĩa là Con Cái) và (nơi người Lào) cũng có nghĩa là Con, và Cái có lẽ cũng chỉ mới có sau nầy, nhưng sự thành h́nh của loại từ ấy th́ chúng tôi nghiên cứu chưa tới nơi, như đă biết thật rơ về ConCái.

 

Luôn tiện, chúng tôi cũng xin nói rơ về tĩnh từ Cái của Việt-Ngữ.  Cái không hề có nghĩa là giống Cái, mà oái oăm thay, lại có nghĩa là giống đực.

 

Trong Mă-Lai-ngữ, tĩnh từ Laki, bị Chàm biến thành Licáy và Việt biến thành Cái, có nghĩa là đàn ông, là giống đực, là lănh tụ.  Ngón tay Cái không phải là ngón tay của cô nào hết, mà là ngón tay to nhứt.  Đường cái không phải là đường để cho người đẹp đi dạo mà là đường rộng răi, thợ Cái là thợ “xếp” đấy.

 

Con dại Cái mang, không phải là Mẹ chịu trách nhiệm, mà là Cha lănh đủ, và Bố Cái Đại Vương, không phải là ông Phùng Hưng và bà Phùng Hưng, mà chỉ có ông Phùng Hưng thôi.

 

Hiện người Mă-Lai có thành ngữ Ibu Lá Ki.

 

           Ibu = Bu = Mẹ

           Lá Ki = Thủ lănh

 

Và thành ngữ đó có nghĩa là nhà lănh đạo, y hệt như Phùng Hưng, và vào thời Phùng Hưng là vẫn c̣n nói tiếng Mă-Lai chưa biến dạng.  Đền thờ đó là đền thờ Ibu Lá Ki, sau mới biến thành đền thờ Bố Cái.

 

Ở chỗ nầy, có hơi nhiêu-khê cần phải nói thật rơ.  Thành ngữ Ibu Lá Ki của Nam-Dương (Lạc bộ Mă) là thành ngữ đă có của họ vào thời mà họ c̣n theo mẫu hệ.  Nay họ đă theo phụ hệ rồi th́ đáng lư họ phải sửa lại là Babu Lá Ki v́:

 

          Babu = Bố

          Lá Ki = Lănh tụ

 

Nhưng họ lại không buồn sửa.  Ta, người Việt-Nam, lại sửa Ibu Lá Ki vào thời Phùng Hưng thành Babu Licáy, v́ ta đă theo phụ hệ vào thời đó.  Sau ta biến măi th́ Babu Licáy trở thành Bố Cái.

 

Nhưng Ibu hay Babu không quan trọng.  Cái chánh là Licáy = Cái = Lănh tụ, và Cái của ta là Đàn ông là Lănh tụ chớ không phải giống Cái.

 

Đại Cồ Việt, cũng thế.  Cồ chỉ là Lá Ki, là Cái mà thôi.  Hiện trên Cao nguyên đồng bào Thượng dùng tiếng Cái với các nghĩa sau đây : Cái đầu, quan trọng, thủ lănh.

 

C̣n Cái có nghĩa là giống Cái là do ngữ nguyên khác tạo ra, có nói rơ trong quyển sử của chúng tôi.

 

Miền Nam có thành ngữ « Đàn bà lại cái » để trỏ người bán nam bán nữ.  Đó là tiếng Mă-Lai rơ ràng.

 

          Lại = Sa lagi = Mà lại c̣n

          Cái = Đàn ông

 

Đàn bà lại cái có nghĩa là Đàn bà lại c̣n là đàn ông.

 

Sa lagi c̣n để dấu ở tỉnh B́nh Tuy ở đó có một làng tên là Lagi.  Có lẽ người Chàm hay người Việt đă nuốt mất tiếng Sa, chớ Lagi không, chẳng có nghĩa ǵ cả.  Tỉnh B́nh Tuy là đất cực Nam của Chiêm Thành, thuở chúa Nguyễn diệt Panduranga, nên ở đó c̣n lắm địa danh Chàm, tức là địa danh Mă-Lai, v́ người Chàm rơ ràng là Mă-Lai.

 

*

 

Ngôn ngữ có sức sống mănh liệt.  Cách đây vài mươi năm, người Việt miền Nam có sáng tác thành ngữ “Đàn bà lại đực”, cũng với cái nghĩa bán nam bán nữ, v́ họ quên nghĩa cũ, nên thấy thành ngữ “Lại cái” vô nghĩa.  Họ hiểu Cái là giống Cái, c̣n Lại là trở thành.  Đàn bà lại cái = Đàn bà trở thành đàn bà th́ vô lư.  Thế nên họ mới sửa lại, để cho nó hữu lư ra.  Nhưng toàn thể người Việt miền Nam đều nhứt định dùng thành ngữ có vẻ vô lư, không ai dùng thành ngữ mới cả, mặc dầu nó có vẻ hữu lư hơn.

 

Tại sao cái có vẻ hữu lư lại bị tẩy chay?  V́ tiềm thức và tâm để của dân tộc c̣n mơ màng nhớ mang máng cái nghĩa cũ, tuy ngày nay có vẻ vô lư, nhưng ngày xưa th́ đúng.

 

Cái đúng đó đă bắt rễ thật sâu, thâm căn cố đế nơi tâm năo họ, nên cái mới, có vẻ hữu lư bao nhiêu họ cũng gạt bỏ ra ngoài.

 

Đáy ḷng của họ c̣n giữ Sa Lagi Licáy.  Chúng tôi lại có bằng chứng đích xác rằng thuở xưa Bắc Hà cũng nói “Đàn bà lại cái”, y hệt như trong Nam, và chỉ dưới thời chúa Trịnh Bắc Hà bởi bị Hoa ngữ tràn ngập với Hoa, Quả, Thuyền, c̣n trước đó, họ vẫn nói Bông, Trái, Ghe, y hệt như Nam Kỳ.

 

*

 

Có một dạo người ta lại tranh luận về câu hát Bắt Cái hồ khoan.  Một học giả đất Bắc đưa ra giả thuyết nầy là Bắt Cái có nghĩa là Bắt thăm theo lối rút cọng rơm, để làm Cái, tức làm “xếp”.

 

Ông Tân Việt Điểu, người Miền Nam, bác cái thuyết đó cho rằng Bắt Cái là do tiếng Chàm Bát Cạy mà ra.  Quả tiếng Mă-Lai và tiếng Chàm có động từ Buak nghĩa là chèo lệch đi, c̣n CạyKual tức là chèo khó khăn.

 

Nhưng thật ra th́ cả Bắc lẫn Nam đều không đúng.  Bắt Cái, là bắt Licáy, tức là bắt tướng thủy quân của địch trong một trận thủy chiến.

 

Có người lại nói Hồ khoanQuan hải hồ khoan của Đào-Duy-Từ.  Nhưng thành ngữ Bắt Cái hồ khoan lại có rất lâu đời, có lẽ trước khi ta tiếp xúc với Trung-Hoa, th́ không làm sao mà Hồ khoan lại do tiếng Tàu mà ra được.  Hai tiếng ấy chỉ có thể là hai tiếng Mă-Lai mà chúng tôi chưa truy ra được.

 

Quả Đào-Duy-Từ đă làm bài hát Quan hải hồ khoan, nhưng ông Đào sáng tác bằng Hán Văn, được Bắt Cái hồ khoan gợi ư, chớ không phải là Bắt Cái hồ khoan bắt nguồn từ Đào-Duy-Từ.

 

Vậy Cái là loại từ, Khả phâncó thể giao hoán.  Tánh cách khả phân lộ rơ ra trong hai câu đối thoại sau đây:

 

-         Năm tới anh sẽ làm ǵ?

-         Tôi cất nhà.

 

Không thể nói: “Tôi cất cái nhà.”

 

Tất cả các nhóm Mă-Lai khác, không có ngoại lệ, đều tuyệt đối không có Cái, y hệt như trong câu đối thoại trên đây.

 

C̣n tánh cách giao hoán th́ ca dao và tục ngữ đă cho thấy rơ, như Cái c̣, cái vạc, cái nông.  Tục ngữ nói: “Phận con ong, cái kiến.”

 

Và loại từ Cái chỉ mới có sau Mă-Viện, chớ không phải xuất hiện trong xă hội Việt-Nam thái cổ.  Cả loại từ Con cũng chỉ mới có sau nầy, mặc dầu trước loại từ Cái.  Ngôn ngữ Mạ, một thứ Lạc bộ Trăi, c̣n dùng Con vừa là danh từ, có nghĩa là Người, y hệt như Thái, vừa là loại từ, y hệt như Việt-Nam, và họ dùng loạn lên: Con Trời, con Cây, con đá, v.v... Đó là dấu vết vay mượn, nhưng chưa tiêu hóa nổi như ta, tức vay mượn không lâu, ta tiêu hóa xong v́ ta tiến nhanh hơn họ, nhưng nhanh lắm cũng chỉ lối ba ngàn năm là cùng, chớ không lâu đời hơn.

 

Dưới đây là hai bài dân ca của người Mạ, cho thấy rằng họ dùng Con y như Thái, để chỉ người, và y như Việt để làm loại từ:

 

          Kúp kon sim, any tơm ta any

         Kúp kon Mạ any tơm ta đuốt

 

Dịch nghĩa:

 

          Bắt con chim, tôi chỉ sanh sự với tôi

          Bắt người Mạ, tôi phải đánh nhau với họ.

 

Chỉ trong hai câu, đă thấy Con được dùng với cả hai nghĩa: Danh từ (có nghĩa là người) ở câu dưới, và loại từ ở câu trên.

 

(* “Bắt người Mạ” là bắt các tù binh trong những cuộc chiến tranh bộ lạc, tục đó c̣n nguyên vẹn nơi người Mạ của thế kỷ 20)

 

Nhưng chẳng những có con chim, mà lại có Con Trời nữa:

 

          Ring tua Con trô, tua tiở

         Cop tua mi, tua any

 

Dịch nghĩa:

 

          Trời đồng ư với đất (con trô = con Trời)

          Anh với em đồng ư với nhau.

 

CHÚ Ư:  Trong cả hai bài dân ca đều có đại danh từ Any.  Đó là đại danh từ ngôi thứ nhứt có nghĩa là Tôi, mà người Việt thượng cổ ở đèo Mụ già hiện nay biến thành Ai, và cũng cứ có nghĩa là tôi, c̣n người Mă-Lai Nam-Dương nói là Aku, cũng cứ với nghĩa là tôi.  Vậy Ai của ta hồi thượng cổ là Tôi đấy.

 

 

BÁCH KHOA

Số 356 – Ngày 01.11.1971