Những nắm-nu của qu-hương

trong Cuống Rn Chưa La

VINH-LAN

 

 

 

Nguồn cảm-hứng cho Bnh-nguyn Lộc viết về tnh yu qu-hương đất nước trong CRCL (1966) rất khc thường. N khng được khu-gợi từ xc-động trước những dy ni cao hng-vĩ, những sng biển di rộng bao-la, những hang động lạ-lng huyền-ảo, hay những cnh đồng dợn sng la trong gi chiều với đn c thơ-mộng, v cng khng l những trang sử oai-hng lm nức lng người dn yu nước. Nguồn cảm-hứng đ khiến nh văn thao-thức với linh-hồn đất nước xuất-hiện trong tập truyện, rất bất-ngờ, l những đối-tượng của gic-quan, những đối-tượng thật quen-thuộc, mộc-mạc, chất-phc, nhưng cảm-động v khng km phần độc-đo. Những vật-dụng tầm-thường hay những hnh-ảnh đơn-sơ m mọi người dn ở lng, thn, x, đều c thể ngửi, thấy, nếm, nghe, qua c-tnh hương-sắc-vị-thanh của chng đ được mang vo tập truyện v được tru-mến t-điểm, bao-bọc bằng lớp lụa-l qu-bu: tm-hồn v tnh-cảm của con người.

 

Những nắm-nu, bm-vu, gắn-b với đất, với nước, với ruộng vườn cy cỏ, dưới dạng mi-vị, mu sắc, m-thanh v cảm-gic được miu-tả bằng những chi-tiết tỉ-mỉ trong suốt tc-phẩm. Những sự-kiện v hiện-tượng của đời sống hằng ngy hằng bữa, tầm-thường đến nỗi khng đng được quan-tm để tới, ở đy mới chnh thật l những nguyn-nhn mạnh-mẽ đ gy ấn-tượng su-sắc vo tnh-cảm v no-trạng của người thn-d.

 

Mượn lời của một b mẹ trong Lửa Tết tc-giả nhắc nhiều tới những mi m khng người dn qu no l khng quen ngửi, pht ra từ mi đất xng ln, sau đm mưa đầu ma n, mi bng bưởi, bng sao n, mi củi cy r-r n, mi la chn n, mi rơm kh n, mi phn chuồng n, mi rau, đậu tươi n. B cố-gắng giải-thch cho c con gi sống ở thnh-phố những ci hay của mi, ngoi những mi thơm của củi qu như dăm-tiện, thảo-thụ tiết ra từ bếp lửa, để bnh-vực cho sự đổi đột-ngột về l nấu của cậu con rể. Sau khi gặp trn đường về, từ buổi cắm trại cu c với vợ con, một l lửa tn than cn ngn trong một nếp nh tranh, anh ta khng muốn xi l nấu bằng dầu lửa nữa m nhất-định mua l đất nung nấu bằng than đước.

 

Ở trn, b mẹ đ ni đến những mi lm nhớ nh chịu khng thấu. Nhưng cũng khng phải chỉ c mi thơm mới gợi nhớ, m c những mi cn dnh-lu tới những ci khc nữa như mi khi đống un l chết vo ma gi bấc m người ta un ln để hơ ấm cũng l một nỗi nhớ-nhung da-diết. Những ci dnh-lu ấy, l ci khng-gian lạnh-lẽo của ma gi bấc bắt người ta phải un l để hơ, l ci mi khi từ l chết dnh liền với hon-cảnh buốt gi, hnh-ảnh đống l un v cảm-gic ấm-p c được; l những nhnh cy sao chết rụng ở vệ đường người ta lượm về lm củi, để lc chy n tỏa ra ci mi của thời tiết gi bấc về m chắc-chắn khng c củi no c thể gy lin-tưởng mạnh như thế; l mi hương hnh l, mi nước mắm của một trch c kho (Hương Hnh Kho) dẫn tới kỷ-niệm tuổi thơ của một chng trai trong một xm ngho ở dưới trũng, nơi thường-xuyn c khi trắng, tiếng chung chiều v mi hnh kho .

 

Nỗi nhớ qua trung-gian, qua sự dnh-lu tới những ci g khc, l một nỗi nhớ kh diễn-tả bằng lời v cũng kh nhận-thức được bằng tr c. Con tm c-lần kể về những thứ vui của lng qu m n đ quen thấy, quen nghe, quen ngửi, một cch hết sức l thật-th: lửa vui, nước vui, đi chợ vui, nấu cơm vui, đốt lửa rơm vui ...., ci g cũng vui hết, ci g cũng lm cho n vui hết, ngay cả buồn cũng vui, vui m được buồn! Nhưng tại sao vui? Tnh c-lần của n khng gip n cắt-nghĩa được tnh-cảm mộc-mạc nhưng tha-thiết đang cuồn-cuộn si-động trong lng n để người ta hiểu nguyn-nhn no đ lm cho n vui. V n cũng khng thể -thức được l chnh niềm vui trong k-ức đ lm n buồn-b, u-sầu như đau tương-tư khi ma ốc gạo về. Lm sao n hiểu được sự lin-quan kỳ-diệu giữa ma ốc gạo l ma gợi n nhớ lại bao kỷ-niệm với nước, với lửa, với rơm, với cảnh đi chợ khuya, với những đm ngủ ngoi ruộng giữ la ...., v mối sầu khng by-tỏ v khng giải-tỏa được của n? Những vui buồn của con tm c-lần, cũng như của nhiều nhn-vật khc, xuất-pht từ lng thương mến lng-mạc, thi-quen, nếp sống hằng bữa của mnh, những nỗi nhớ từ sự buộc kết một cch hồn-nhin đời mnh vo những g bao-bọc vy quanh ngay khi mở mắt cho đời, l tm-trạng đang ở trong tnh-trạng khng thể la cuống rn.

 

Nỗi nhớ bếp lửa của b mẹ trong Lửa Tết, nỗi nhớ qu khi tới ma ốc gạo của Con Tm C-Lần, cũng l nỗi nhớ tiềm-thức của người đn b theo chồng sống ở miền Nam nước Php trong Căn Bệnh B-Mật Của Nng. Khng ai chẩn-đon ra b đ bịnh g m lc no cũng buồn-bực, quạu-quọ, cau-c v tm-tr xa vắng, d đang ngồi với chồng. Mi đến một hm đi dạo trn con phố dẫn xuống bến tu vợ chồng b gặp một lo Ty gi, v thnh-lnh ng ta yu-cầu b lập lại một cu ni bằng tiếng Việt m ng bất-chợt nghe được, rồi sau đ ng đứng khc rấm-rứt. ng ta cho biết, xưa ng l gio-sư ton trường Chasseloup-Laubat ở Sign, sau khi về hưu vẫn ở lại Việt-Nam, v đ qu quen với những chơn trời ở bn ấy, đ thương mến những chơn trời ấy. Nhưng rồi ng ta phải hồi-hương, cho d khi hồi-hương nghe mnh bỡ-ngỡ, lạc hướng. Nay, lối ni nghe như nhạc của người đn b đ đưa lại hương-vị xa-xi của nơi m ng ta đ từng coi như qu-hương mnh ... Tnh-cờ ng lo Ty gi thương nhớ qu-hương Việt-Nam đ khm-ph ra chứng bệnh b-mật của nng. Th ra, tiềm-thức đ xui b c thi quen đi trn con phố dẫn xuống bến tu Marseille, nơi tu b nhổ neo để đi Viễn-đng, v miền Nam nước Php l nơi c rất nhiều ve, m tiếng nhạc ve đ gợi nhớ khng thi ci xứ-sở b đ bỏ lại sau lưng để theo chồng. Chứng bệnh hết l nan-y khi b ta được chồng đưa đi xem cy chuối, đi thăm ao rau muống, cho ngửi mi ng, rau om, rau răm m ci mi Việt-Nam của n ngn năm chưa dễ đ ai qun đ trở thnh phương-thuốc mầu-nhiệm trị nỗi sầu xứ của b.

 

Nhớ mi nn nhớ nh hay ngược lại, nhớ nh nn nhớ mi, nhớ đến pht ghiền, pht thm, như nng-dn ghiền mi đất trong Thm Mi Đất, v đất c mi thật-sự, nhứt l đất mới xới, một mi rất đặc-biệt m mũi họ quen ngửi cho đến ghiền, thiếu th họ nghe thm Tnh nhớ xứ, nhớ nh gồm nhiều yếu-tố, m nỗi thm mi đất l một yếu-tố quan-trọng. Nhưng khng phải chỉ c nng-dn mới ghiền mi đất m ng gi của ghe thương-hồ (Phn Nửa Con Người) đ bao nhiu năm tri nổi với sng nước cũng khng ngăn được nỗi nhớ mi, tao ghiền hửi mi đất xng ln sau mấy trận mưa đầu ma, tao ghiền hửi mi la chn, tao ghiền mi phn chuồng, v ng ao-ước tao muốn hưởng mi đất vi năm trước khi theo về ng b. Với nỗi nhớ khng ngui đ ng lo-ngại cho hai đứa chu nội, mi theo cha mẹ lnh-đnh kiếp sống sng hồ, sẽ khng c lấy một mi tranh để m nhớ, khng c một khm rau để m thương v điều m ng khng mong muốn nhất l chng n sẽ giống như những cọng rc tri theo dng khi m chng khng c một điểm tựa no ở đất liền để bm-vu.

 

Những cọng rc tri theo dng nước chỉ chảy c một chiều đi tới đng l hon-cảnh của người la xứ vĩnh-viễn khng hy-vọng trở về như thiếu-phụ của truyện Chiu-Hồn Nước. Thoạt đầu b chỉ c đi lc chạnh nhớ tới qu nh, nhưng theo thời-gian lng sầu xứ cng su đậm, trở thnh sự thm kht qu-hương, v khng ai ngờ nỗi thm kht qu-hương của người c chồng Php sống ở nước Php sao m giản-dị v-cng: thm một mn c nướng chấm mắm nm, thm hương bưởi, thm tiếng chung cha ngn-nga vo buổi hong-hn, thm cảnh cấy mạ vo đầu ma la.

 

Cũng như đất, lửa c đủ mọi quyến-rũ cho thị-thnh-khứu-gic, lẫn lộn với khng biết bao l tm-tnh, mơ-mộng. Lửa c mu, củi bắp phơi kh c ngọn lửa mu xanh , lửa c hnh-th khi chy ln, lửa thing của gia-đnh phải thơm, thơm mi thảo-thụ, lửa nổ lch-tch trong l, v tiết ra mi cy cỏ, v đặc-biệt l lửa lm vui mắt, v nhn ngọn lửa cũng ngộ, nhn mu lửa cn ngộ hơn. Người chồng trong Lửa Tết cho rằng nhn lửa than thấy vui mắt hơn l lửa bếp dầu, bởi nghe n c linh-hồn hơn, n gợi nhớ sự sống hơn. V v n c linh-hồn, c sự sống, nn lửa củi khng chết. Con Tm C-Lần kể rằng, ở nh qu bếp khng bao giờ tắt, m hễ lửa c l phải nấu ci g, th dụ luộc khoai. Do đ, ở lng c tập-qun l cả nh hay ngồi quanh bếp lửa, cơ-hồ như nh chỉ c gian bếp thi vậy. Người ta cho nhm lửa l -niệm gia-đnh v c cảm-tưởng nh c nhm lửa, nghe như l sung-tc, m nhm những bếp lửa lớn, nghe cng sung-tc hơn. Hnh ảnh khi quyện mi tranh, bốc ln từ lửa thing của gia-đnh cũng l hnh-ảnh trang-trọng, đầm-ấm của những đm c lửa Tết, lửa đm ba mươi nấu bnh tt, quanh l lửa lớn ấy c mặt đng đủ cả nh, ai đi mần ăn xa ở đu, cũng phải về, đng đủ cả nh m đi khi đng đủ cả họ nữa, v c những b con ngho, khng gia-đnh, khng nh cửa, họ xin hưởng k sự ấm-cng của bất-cứ người no trong họ m c được một bếp lửa. (Lửa Tết). V thế m mỗi khi thng đầu tin của năm dương-lịch bo-hiệu những ngy gần Tết, l nỗi nhớ lại dằn-vật lng người thiếu-phụ ở hải-ngoại, nhớ Tết như nhớ nh, nhớ nước, bởi v Tết l sum-họp gia-đnh (Chiu-Hồn Nước).

 

Tuy-nhin, d cho tnh-cảm của nỗi nhớ, cơn thm, dạt-do đến thế mấy người ta vẫn c thể bị chới-với, lạc-lng khi khng tm được trong những vật-chất cụ-thể hay khng-kh quen thuộc đ một linh-hồn. Người đn b của Chiu-Hồn Nước khng cn họ-hng quyến-thuộc để thật-sự hưởng Tết trong một mi tranh quyện khi lam chiều như mơ ước m phải mướn tạm một căn phng trong chung-cư, by-biện bn thờ trn chiếc bn con với bnh hương, đn, nhang, độc-bnh, v cố tạo một quang-cảnh cổ-truyền bằng cch trang-hong trn tường tranh g, tranh lợn.... Nỗi thất-vọng của người vượt khng-gian vạn dậm về qu ăn Tết để rồi khng c lấy một mi tranh để m vo, đứng giữa lng thủ-đ Việt-Nam m bơ-vơ như nghe rằng mnh chỉ đi bn lề nước Việt thi, khng lm sao m len vo linh-hồn của đất nước được sao m chua xt v-cng! Chua xt v sự mu-thuẫn tế-nhị của n. Thật vậy, c g chua xt cho bằng khi một người Việt xa xứ trở về xứ để mong giải-quyết mối sầu xứ th lại cảm thấy c-đơn giữa những thứ m mnh đ từng quen thấy, quen nghe, quen ngửi, quen nếm? Sự mu-thuẫn ấy vừa đau đớn cho một thực-tế khng chờ đợi, vừa đau đớn cho một pht-hiện khng ngờ. Đ l nỗi đau của ci đau mất gốc. Người thiếu-phụ kia khng cn ai ở đy l b con để thăm viếng, khng tm được gốc gc của mnh để thỏa-mn sự khao-kht đon-tụ gia-đnh, th ci linh-hồn của đất nước, một khi thiếu vật xc-tc l linh-hồn người hay linh-hồn bầu-bạn để lm trung-gian, sẽ chỉ cn l một -niệm trừu-tượng, mơ-hồ, xa cch .....

 

Linh-hồn của đất nước hiện-hữu trong ta quả thật khng phải chỉ đơn-thuần ở chỗ v ta đang đứng trn đất nước Việt-Nam, đang ni tiếng Việt-Nam. V tm-hồn Việt-Nam cũng khng phải chỉ cần được minh-chứng bằng ging mu Việt-Nam, hnh-dạng Việt-Nam với giọng ni Việt-Nam. Đ l l-do m ng thầu-khon Vĩnh-Xương (Hương Hnh Kho) khng thể c một sự lựa chọn nhanh chng giữa hai chng chng thanh-nin đi cầu-hn c con gi độc-nhất của ng. Cả hai đều l kỹ-sư điện, đều đẹp trai v c gio-dục, th nn chọn chng no? Một tnh-cờ đ gip ng -kiến để dứt-khot vấn-đề kh giải, đ l ci mi đặc-biệt của hương hnh l pha với mi nước mắm của một trch c kho no vừa si bay trong khng-kh đưa ln tới sn thượng nh ng. Chng thanh-nin gốc Xim, chỉ mang quốc-tịch Việt của cha mẹ nui, bồi-hồi cảm-động khi ngửi lại ci mi đ gợi nhớ thời thơ-ấu m chng đ sống với dưỡng-phụ ở một xm ngho, nơi đ cũng c những sợi khi trắng mỏng, tiếng chung cha v nhứt l hương hnh kho giống như phong-cảnh chung-quanh nh ng vậy, ci cảnh đ lm chng xc-động ngay khi mới vừa trng thấy. Nhn đ, chng kể lại chuyện một người đn b Việt sống với chồng ở Ty-Đức đ đi chng mn c kho kho bằng nước mắm m b ta đ giấu kn gần mười năm ..., với một thứ rau c mi tương-tự như mi hương hnh ta, v sau đ, cả hai đ ngồi trong nh bếp để nhớ nh v thương mến qu-hương Việt-Nam xa xi. Trong lc ấy th chng kỹ-sư chnh gốc Việt sanh đẻ tại Ba-l, thắc-mắc tại sao mi cha của bộ giả-sơnlại cong quớt ln như vầy v cũng khng buồn để l ở bn kia đường c một kiểng cha cổ nằm giữa mấy mươi nếp nh c khi thổi cơm chiều bay ln từ cc mi l xm-xịt ... Thi-độ v tnh-cảm rất khc nhau giữa hai chng thanh-nin đ đưa ng Vĩnh-Xương tới quyết-định l khng gả con gi cho chng trai Việt m ng tin rằng chng ta sẽ yu nước Việt-Nam theo sch vở chớ khng yu bằng tấm lng như thằng Xim đu.

 

Bnh-nguyn Lộc cn nhn tm-hồn Việt-Nam qua một lăng-knh khc nữa, qua một kha-cạnh tượng-trưng đầy mu hồng của cc c me Mỹ, cc c vợ thng của chn ng Hu-kỳ, m Anh-ngữ chỉ cần biết bốn tiếng Yết, N, Đ-la v -k l đủ sức lm ăn. Những Đứa Con Thương Của Đất Mẹ trong truyện l những phụ-nữ ăn ni như thin-hạ họp chợ, mở my thu-thanh hết cường-độ để nghe Vọng-cổ tro-lộng do nghệ-sĩ Văn-Hường ca, v trong lc ăn chả gi, bnh xo th ngốn rau sộp, rau chiết, độn no hai m, y như l loi khỉ..... Họ l những me, nguyn trước kia l những c gi cắt cỏ, những c thợ cấy, thợ gặt, những c gnh nước thu, chạy theo đồng đ-la để kiếm sống nhưng vẫn thch ăn bnh xo với nước mắm chanh ớt hơn đồ hộp, thch mở bt cửa hơn bế-mn, thch nghe Vọng-cổ hơn loại nhạc Hu-kỳ m họ chắc phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng-thức được. Những c gi từ lng qu tri giạt ln Sign lm vợ hờ, vợ thng cho người ngoại-quốc ấy vẫn nui cht hy-vọng về sau thế no cũng lấy chồng Việt-Nam.... Biết đ l một hy-vọng m chnh cc c cũng khng tin rằng c người Việt-Nam no chịu lấy họ, cc c vẫn nui hy-vọng trong ci bản-chất thật-th, ci bản-chất tuy dốt-nt m khng vong-gia, vong-bổn, tuy lăng-nhăng thế m họ vẫn cứ cn l người Việt-Nam một trăm phần trăm, khc hẳn với cc c nữ-sinh thơm phức m lại thấm-nhuần văn-minh Địa-trung-hải..., kiến-thức đầy đầu c m khng thể l một người vợ đủ khả-năng thực-hiện -ch k-thc truyền-thống dn-tộc lại cho con ci...

 

***

 

Lng thương mến, bận-bịu với mu sắc, mi-vị của lng xm l nỗi khổ-tm lớn-lao của những kẻ chợ giả-hiệu, những kẻ v miếng ăn phải bỏ qu ln thnh-thị. Đời sống gần như l n-lệ của đồng-hồ l nguyn-nhn của tnh-trạng thần-kinh căng-thẳng, v khng-kh nng-bức lm cho tr c con người lc no cũng như bị đun si, dễ bực dọc, dễ đm ra cu-kỉnh l đầu dy mối nhợ của sự bất-ha, ci-v trong gia-đnh. Dn qu ra chợ m khng tự nhuộm được mu chợ l những kẻ tự hy-sinh mnh, trong ci kiếp của mnh, ci kiếp thương nhớ khn ngui chơn trời cũ, ci kiếp chịu đựng hon-cảnh mới m họ theo khng được. Ai muốn tự giải-thot ra khỏi sự bắt-buộc đổi mu chớp nhong như loi cắc-k theo hon-cảnh mới, th phải trở về lng, trở về hon-cảnh thật của họ l ruộng, l rơm, l rạ, l tru b, l phn chuồng, l cấy gặt để rồi sẽ lại thấy cy, thấy cỏ, thấy ma .... ma ve ku ....ma l rụng ....ma c hội .... ma đuổi chim (Về Lng Cũ)

 

Tuy-nhin, trở về với kỷ-niệm, m một khi kỷ-niệm đ lại giống như l chiếc khăn mu-soa được cất giữ để lưu dấu một mối tnh tan vỡ, giống như một lọ sứ cổ Giang-Ty, qu chỉ v bao nhiu lọ khc đều bể hết, th sự trở về ở đy cn mang đầy hơi-hướm của một nỗi buồn luyến-tiếc. Một ngi lng bị chy sạch trong thời-kỳ tiu-thổ khng-chiến năm 1945 đ bị xa, cả trong k-ức của con người nữa. Kể từ ấy, nhn-vật trong truyện Chiếc Khăn Kỷ-Niệm thấy những người đồng-hương sống-st v tri giạt xuống Sign qu-bu v-vng, v họ gợi lại hnh-ảnh của một vng đất đ mất m anh ta rất thương yu.

 

Sự mất-mt l động-cơ cho -thức gn-giữ, m c lẽ trước nhất l giữ người, giữ nề-nếp. Ma Nm Đ vo nh cậu Tư c mục-đch lm c chu gi của cậu từ Sign về ăn Tết sợ ma m phải rời lng đi lập-tức. Chỉ c cch ấy mới ngăn chặn khng cho c ta tiếp-tục dng tiếng gọi ro-rắt của thị-thnh ra m dụ-dổ những c gi ngho-khổ, cực-nhọc, (m c lẽ) c no cũng c mộng ra thnh cho sung-sướng tấm thn. Người con trai, tuy l một cng-dn tốt trong lng, đ c hnh-vi phạm php giả ma nm đ để tự-vệ, cho dẫu rồi phải vo t. Anh ta tự-vệ v cảm thấy tnh yu của anh đang bị đe-dọa bởi sự quyến-rũ của c nng đi ở mướn từ Sign về. Đ bao nhiu năm nay, mỗi lần c nầy về lng l lng mất đi t lắm l một c giv họ dm đi l nhờ c (c ta) du-dắt, lần nầy th c gi anh sắp hỏi lm vợ, sau mấy hm qua lại với c nng mi-giới cho đời sống thủ-đ, bắt đầu đổi thi-độ với anh ta. Thực-tế đng buồn đ lm anh lo sợ l những thn-nữ bỏ lng khng c no cn can-đảm lấy những anh nng-dn trong lng m họ đ thấy l ci-đy, lam-lũ qu.

 

Sự tự-vệ l phản-ứng đầu tin chống lại nguy-cơ bị biến-đổi, bị chiếm-đoạt. Tự-vệ để bảo-vệ.

B Hai Ngọt khng thể bn dễ-dng ci nh tổ-phụ suy-sụp của b như người ta bn một con g được. B chỉ muốn sống gởi nạc, thc gởi xương ở đy, chớ khng muốn nghe lời con gi chạy theo phong-tro bn nh gi cao để lấy vốn đi lm giu, bởi b khng lm sao xa bỏ được những thứ quen mắt của b: ci thềm ru phủ cũng quen, tấm vch bổ-kho mọt gậm cũng quen, v nhất l ci cảm-gic nghe như ng chồng qu-cố của b cn v ra đu đy đ ngầm xui b quyết-tm bm nu vo đất nầy, nhứt-định bỏ xương ở đy, khng ai x đẩy (b) đi đu được hết. Những lời năn-nỉ, khc-lc đi bn nh mỗi tuần mỗi ngy của con gi lm b nhức đầu, dịch ham tiền bn nh của hng xm, dịch mua nh cũ ph cất nh mới của dn thủ-đ tới đy lm b chng mặt, khiến b c cảm-tưởng rằng, với đ nầy th cả ton dn lng đều phải lạc hướng bởi gương mặt lng họ biến-đổi kỳ-dị, họ hết nhận ra qu-hương thn yu cổ-knh nữa. Nn b thấy phải tự vệ. Hnh-động tự-vệ của b Hai Ngọt l thay đổi bộ mặt hoang-phế của ngi nh, đem sức gi ra lm cỏ miếng vườn cho sạch rồi trồng kiểng, trồng rau, trồng cả cy ăn tri. Khi nh cửa đ khang-trang trở lại, b treo bảng bn nh với một gi cả m khng ai mua nổi ..... (Bn Ngi Nh Cổ)

 

Giữ nh rồi giữ đất ...., cho dẫu rằng đất đ chỉ l một ci g cỏ chy, cằn-cỗi, với năm ci chi tre lợp tranh, khng cửa, khng vch; cho dẫu rằng những ci chi v-gi-trị đ bị đốt chy tan-tnh v cho dẫu rằng kẻ lưu-manh đ tặng mười ngn đồng với đề-nghị dn dời cư để chiếm đất. L-do từ-chối lợi-lộc to lớn nầy của kẻ bần-cng đ lm ngẩn-ngơ đm người tư-bản: B con ti ở đy đ bảy đời rồi, mồ mả ng cha của b con ti đều nằm ở đy. Chng ti thương yu ci g cỏ chy nầy qu rồi, khng lm sao m rứt ra để đi đu được hết.... (Những Ngi Mả Tổ).

 

Nếu đ khng bỏ đất th cũng khng thể bỏ lng được như những con c m lạc mạ. Mỗi năm, vo ma nước lũ c sng theo nước trn bờ ko nhau ln đồng ruộng để đẻ. Sau đ, chng bỏ trứng lại, hồi-cư về sng rộng. Lũ c con tự-tc sống trn bờ, cho đến khi những đm mưa cuối ma đổ xuống l chng p nhau m chạy theo những đường nước dẫn về sng rạch để sẽ sống như cha mẹ chng. Dn trong lng chờ tới thời-điểm ấy đem đặt những giỏ my hay tre đan chận ở những nơi c thot ra sng để hứng c v đặt tn chung cho tất cả c ấy l c lạc mạ, c lẽ từ chữ c lạc mẹ đọc trại ra. Sau ma mưa l hết đi hứng, người ta kiếm c bằng cch đi tt vũng. Những con c m cn lại trong vũng l những con c sng khng cng đn chạy theo đường nước tm sanh-lộ, m lội ngược dng để ở lại nơi n được đẻ ra. Lội ngược dng đ khổ thn khng biết bao nhiu, lại khng được hưởng ci vui chung hội m chạy với người ta. Tệ hơn nữa, ở lại trong ao t, chắc phải thiếu ăn v rốt cuộc c thể chết chy khi ao vũng cạn hết. Tại sao c những con c ngu như thế? ng lo c kinh-nghiệm với nghề tt vũng, hiểu c như hiểu người, đ giải-đp thắc-mắc của thằng b đang sắp bỏ lng: Sỡ-dĩ chng n khng chạy v chng n thương yu nơi chn nhau cắt rn của chng, cố lội ngược dng, bm nu để ở lại nơi m chng n cho đời. Để lm g? Khng ai biết. C lẽ chỉ thương m ở lại thi! v đi cũng được, miễn toại lng thương.

 

Ci tnh-cảm chủ-quan đối với đất, với lng, với bụi tre con suối nơi họ đ sanh sống trong cực-khổ ngho-đi của ng lo, của thằng b, của chị đn b ga trong truyện Bm Nu được v-von như con c m lạc mạ l một tnh-cảm hnh-thnh từ trực-gic, biểu-lộ một cch tự-nhin m khng một l-luận khch-quan no c khả-năng phn-tch, biện-giải được. Nhưng, một khi bỏ xứ khng đnh bởi lng thương mến cội-nguồn th họ phải bm nu vo mảnh đất cằn-cỗi đ để giữ đất, giữ lng thi, v chnh nhờ những bm nu ấy m lng mới tồn-tại, lng mới tiếp-tục sống cn. V cn lng mới cn nước!

 

B Mọi của một giống người Sơn-Cước, ở trn hn ni con thuộc lng Tn-Định, cũng đ thương rừng như dn qu ta thương đất thương lng vậy, v rừng l khung-cảnh quen-thuộc của họ, v rừng với họ như nước với c, nn b ta quyết-ch giữ rừng, bảo-vệ rừng, khi đon người khai-hoang đốn cy lấn đất để biến rừng thnh đồng-bằng. Chiến-thuật đốt rừng dồn người chiến-sĩ duy-nhất của cuộc tương-tranh ln đỉnh ni đ thnh-cng, khi tiếng h tuyệt-vọng của b Mọi gi chỉ cn l tiếng nấc th-thảm trong ngọn lửa cao ngất trời. Cng-cuộc tiu-diệt thnh-tựu như muốn, v người địch-thủ đơn-độc đ bị thiu xc, nhưng sự chiến-thắng đ trở thnh ảo-tưởng, v đồng-bằng vẫn tiếp-tục khng c nước để khai-khẩn. Su ngọn suối từ ni cao chảy xuống tưới mt đất bằng đ bị b Mọi lm tắt để diệt nguồn sống của đm xm-lăng. Người ta hy-vọng c thể khai thng con suối khi kẻ ph-phch khng cn nữa, nhưng hy-vọng đ bị tan như my khi. Cc ng lo đầy kinh-nghiệm sống đ giỏi by mưu lập trận nhưng khng tin-liệu nổi hiệu-quả của tấm lng thương rừng trung-kin. B Mọi lm tắt nghẽn su dng suối bằng cch cắm một ci nt cy gồ ngay mội nước. Cy gồ khi thấm nước th nở lớn, lớn đến nỗi khng ai c thể cạy n ra để giải-thot mội nước được. Rồi theo thời-gian chất đ vi trong nước mội tiết ra, kh cứng lại, biến ci nt thnh đ vĩnh-viễn hết phương lay-chuyển.

 

Tiếng B Mọi H thảm-thiết trn đỉnh ni cao trong mu lửa đỏ rực trời l lời cảnh-gic một tinh-thần bất-khuất. N đ tắt mất nhưng m vang cn mi trong tm-khảm của chứng-nhn, cả của người được nghe kể lại. V n sẽ cn mi trong ci nt gồ ha-thạch. Sự ha-thạch ci nt gồ khng phải chỉ l hnh-ảnh của một sự ph-hoại, m chnh n đng thật l tấm lng yu qu-hương son-sắt, bền-vững như đ Trường-sơn!

 

 

02.2010

 

 

 

Binhnguyenloc.com