Cái duyên của B́nh-nguyên Lộc

Hoàng Văn B́nh

 

Trong các nhà văn miền Nam, một người kỳ cựu và có nhiều đặc điểm đáng cho các nhà phê b́nh nói đến là B́nh-nguyên Lộc. Bước vào làng văn gần hai mươi năm nay, ông đă tự tạo cho ḿnh một địa vị vững vàng trong địa hạt tiểu thuyết không những bằng số lượng tác phẩm lớn lao đă xuất bản, mà c̣n v́ một cái duyên riêng mà ai đă một lần biết qua không thể nào quên được. Cái duyên đó được tạo nên từ cả hai cái sở đoản và sở trường của ông, và ngày nay dù có người không thấy thích hợp cũng phải hiểu rằng chính nó đă thể hiện tài năng và cá tính của B́nh-nguyên Lộc.

Trước hết ông là một người giản dị. Giản dị trong cốt truyện, trong tâm lư nhân vật và cả trong h́nh thức văn chương nữa. Ông không bao giờ nói đến những mộng ước xa vời hay những tư tưởng lớn mà chỉ bàn đến những chuyện rất thường: t́nh yêu, sự ghen tuông, dối trá, cái chết, niềm hy vọng ... Những nhân vật của ông cũng chỉ là người như bao nhiêu con người khác sống ngoài đời, không có ǵ đặc biệt. Ta có thể gặp bất kỳ ở đâu đó một người tương tự như anh X̣n, ông Phán Ca, cô Hai Thiều, cô xẩm, anh các chú ... Cốt truyện đă không ly kỳ mà văn chương cũng chẳng bay bướm. Những ai mong gặp được nơi ông những câu trạm chổ hoa mỹ sẽ thất vọng ngay sau khi xem xong vài hàng đầu tiên. Trong suốt hơn 300 trang của quyển Đ̣ Dọc câu văn hoa nhất và cũng độc nhất là câu sau đây:

Lâu đài kư ức là một lâu đài kiên cố nhất không thời gian hay mưa nắng nào tàn phá nổi. Mà nó lại xinh đẹp làm sao, càng cũ càng đẹp ra, qua lớp bụi thời gian cái ǵ cũng hiện lên với muôn màu rực rỡ“ (Đ.D. trang 53)

Đó, cái lối văn hoa của ông chỉ ít ỏi như vậy thôi. Câu văn mới lẻ loi làm sao, chẳng khác ǵ một đóa hoa hồng nằm lạc loài giữa một vùng toàn là hoa mắc cỡ. Cho đến cả âm điệu của câu văn cũng không được đếm xỉa đến. Ông có lối đặt câu cụt ngủn làm người đọc bỡ ngỡ hết sức : „Sanh rất khổ, bà Nam Thành bằng ḷng hết sức. Trông ngộ quá, Chi bỗng hiểu, vui lắm!“ . Đôi khi có câu dài hơn mà người đọc cũng gặp phải cảm tưởng đó : „Các cô bỏ hai món lên cân, rồi th́ cái món „anh chồng“ thấy nhẹ hểu như tim bấc“, „chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại khiến thằng Lộc thích chí hết sức“. Trong câu, hai chữ „đứng khựng“ hiện ra thật lạ lùng, hai chữ „thích chí“ cũng đột ngột không kém khiến người đọc thấy như bị tức nghẹn giữa ngực. Tác giả lại hay dùng vài chữ đặc biệt khiến ai tinh ư sẽ nhận diện được ngay. Chẳng hạn như hai chữ „hay không“ thường được dùng liền nhau („Có muốn tiền hay không“. Hay „có chuyện ǵ lạ hay không“ .... „Liệu bác sĩ nhớ lời hay không ?“) và chữ „nầy“  của ông cũng có một vẻ bệ vệ chậm răi đặc biệt (...cảnh khô hạn ở xóm thuốc „nầy“, t́nh cảm oái oăm của thằng bạn rủi ro „nầy“... Ai cũng buồn cười cho hoàn cảnh rể ngược đời „nầy“... ) Văn chương của ông không chau chuốt được có lẽ v́ ông thực tế quá. Ở nơi ông, thời gian và không gian luôn luôn gắn liền vào nhau, ông không thể tách rời chúng ra để thần trí vút lên cao mà tưởng tượng đến những điều không có thật.

Cũng chính v́ óc thực tế quá đáng đó mà ông đă chỉ để ư đến cốt truyện mà không ngó ngàng ǵ đến tâm lư nhân vật. Trong cuốn Đ̣ Dọc, trừ ông Nam Thành ra c̣n có đôi chút khởi sắc, bốn cô gái, cô nào cũng sàn sàn như nhau, không cô nào có cá tính nổi bật hẳn lên – Tâm lư ông Nam Thành được linh hoạt phải chăng v́ ông là người đàn ông độc nhất trong gia đ́nh hay v́ ông có nhiều điểm tương đồng với tác giả - Ông luôn luôn nói thế cho nhân vật và tệ hơn nữa, cho nhân vật nói những điều không thể nói được. Chẳng hạn người đọc không thể hiểu tại sao một cô gái như cô Hương - một người chắc chắn đă bỏ học từ lâu và hiện đang có nghề y tá - lại có thể có được những ư nghĩ vô cùng thông thái như sau:

Chị có vào ở vài ngày trong một làng dựa sông Đồng Nai trên Biên Ḥa, cảnh đẹp hơn dưới ḿnh, người rất văn vật, và ḷng người, chí người rất Việt Nam chớ không phải là tao loạn tâm hồn Cao Miên, Ấn Độ, Trung Hoa như ở vài làng dưới ta là cái ngă ba văn hóa Hoa-Ấn“ (Đ.D. trang 65).

Câu văn nghe lạ hoắc, đầy những từ ngữ chuyên môn và trừu tượng. Đó không phải là ư kiến của một cô y tá nhà quê mà chính là nhận xét của một nhà khảo cứu đă được hóa trang. Nhưng cũng may, cái lỗi này chỉ xảy ra có một lần trầm trọng như vậy thôi.

Nhưng nếu B́nh-nguyên Lộc chỉ có những đặc điểm như trên đây th́ người đọc đă bỏ rơi ông từ lâu rồi. Sở dĩ đến nay ông c̣n được họ quyến luyến chỉ v́ ông đă đem đến cho họ những điều mới lạ đáng mong ước.

Đă giản dị và thực tế, ông cũng là người rất tự nhiên. Việc viết văn đối với ông thật là dễ dàng, y như người ta nói chuyện. Mà đúng là ông đang nói chuyện thật, xem chuyện của ông, ta cứ có cảm tưởng là ông đang hiện diện đâu đó để nói năng đùa cợt với ta. Văn ông chẳng khác ǵ văn nói, trong đó đầy dẫy những từ ngữ thông dụng như „cái mới kỳ, cái mới khó hiểu, nịnh đầm số dách, có cái ǵ lạ nè, thiệt là hết hy vọng, có hay th́ thôi ...“. Ông đă xem người đọc như bạn để được tự do đàm đạo với họ về mọi chuyện và v́ vậy giữa người đọc và tác giả không có một khoảng trống nào ngăn cách, khi đă gần nhau th́ hiểu nhau và mến nhau là chuyện dễ dàng.

Không hay mơ mộng nên ông cũng chẳng để cho ng̣i bút của ḿnh chạy lan man bao giờ, một khi viết ra là đă có cái ǵ để nói. Nhưng v́ cả nội dung lẫn h́nh thức đều không có ǵ đặc sắc nên ông chỉ c̣n cách sắp xếp các chi tiết thế nào cho chặt chẽ và giải quyết câu chuyện thế nào cho khéo léo để lôi cuốn người đọc. Chính v́ thế, đọc văn ông chẳng khác ǵ chuyện trinh thám, chuyện không có một chỗ thừa và đoạn kết luôn luôn hứa hẹn nhiều bất ngờ thú vị. Trong truyện Bao Bố Nh́n Mặt, mọi người đều tưởng cô Bánh có bầu với anh thầy chích Mạnh, không ngờ tác giả cái bầu ấy lại là Th́n, người anh họ đẹp trai của cô. Trong Thí Một Con Chốt, nào ai đoán được cái ông Tư Khâm hào hiệp kia về sau lại là một tên phản bạn, c̣n cô gái xinh xắn, kêu ông bằng ba ngọt sớt đó cũng chỉ là một đứa bịp hợm, đă toa rập với ông Tư Khâm để lật đổ phần cơm của người khác. Sang đến các truyện Cô Hời Bán Thuốc và Đầu Gà Đít Vịt th́ yếu tố bất ngờ lại càng nổi bật hơn nữa v́ cô Hời và cô Xẩm lai này cuối cùng đều là người Việt trăm phần trăm. Sự bất ngờ luôn luôn khêu gợi trí ṭ ṃ của người ta nên một khi đă cầm đến quyển truyện của B́nh-nguyên Lộc là phải đọc cho bằng hết, không làm sao rứt ra nữa. Truyện mà c̣n nhớ th́ tác giả quên làm sao được.

Người đọc c̣n nhớ đến B́nh-nguyên Lộc v́ cái lối khôi hài duyên dáng của ông. Cũng như những con người thực tế khác, có lẽ ông chẳng mấy khi buồn và lúc nào cũng sẵn sàng chọc cười thiên hạ. Nếu vạn nhất phải đụng chạm đến chuyện ǵ có vẻ bi đát th́ ông cũng chỉ nói phớt qua, coi đó là một điều tự nhiên không sao tránh được. Cho nên ta thấy phần đông các nhân vật của ông cười với nhau luôn, hết cười hóm hỉnh, cười x̣a, cười rộ, cười ngất đến cười ha hả, cười ngă nghiêng ngă ngửa, cười lộn ruột lộn gan ... Nhân vật cười nhiều như vậy th́ người đọc cũng cười theo v́ làm sao không cười được khi thấy ông Nam Thành đă lớn tuổi mà c̣n vui tính, đi dọn nhà mà không chịu chỉ rơ căn nhà nào lại cho xe chạy lố một khúc để vợ con đoán chơi. Lũ con của ông cũng hay đùa nghịch một cách vô tội, cô Quá đă có lần hát bài Ḥn Vọng Phu theo tiếng kêu của con ểnh ương:

-  Uềnh oang, uềnh oang, uếnh uênh oàng ...“

Ta cũng tức cười với lối nói năng dị hợm của cậu Công Tử Quờn:

-  Tôi có tự túc một bầy gà Hoa Kỳ có tương lai quá khứ“.

Nhưng có lẽ buồn cười nhiều nhất v́ lối so sánh độc đáo của tác giả. Những ư nghĩ của ông mới ngộ nghĩnh làm sao, chẳng hạn như ông bà Hương đập con „như người đập nệm ngoài nắng“, „ông cụ sẽ là mơ vàng không bao giờ cạn“, „họ ṭ ṃ như nhà ḿnh là một cái thúng đựng con ǵ trong đó“, „chợt có một gia đ́nh kéo nhau đi qua dài lê thê như một đêm cằn rằn của bà vợ vừa ghen xong một trận ban ngày“ ...Lời so sánh thực là đúng thực tế mà v́ đúng quá, sát quá, đến cái độ trắng trợn nên ta mới thấy tức cười. B́nh-nguyên Lộc quả đă giúp cho bao nhiêu người bi quan yêu đời lại v́ ngay cả lúc đáng chán nhất, ông cũng cố khôi hài cho bằng được.

Nhưng B́nh-nguyên Lộc, nếu xét đến tận cùng các tác phẩm của ông, ta phải nói rằng chính nghệ thuật phân tích tâm lư tinh vi mới xứng đáng tiêu biểu cho tài nghệ của tác giả. Ông không sành diễn tả tâm lư nhưng lại giỏi phân tích. Quả vậy, dưới ng̣i bút hóm hỉnh của ông, những t́nh cảm sâu kín nhất trong ḷng người đều bị phơi trần ra với một vẻ khôi hài hết sức. Đây là tâm trạng của một anh chồng đang ao ước có vợ bé (v́ bị cảnh âu yếm của mấy nhà giàu có vợ bé chung quanh kích thích):

„Chưa có vợ bé mà Khánh đă gầy sút đi v́ mất ngủ. Mất ngủ v́ lo toan phương tiện tài chánh mà cũng v́ bận ŕnh mọi việc xảy ra ở các nhà vợ bé.

Chín giờ, chàng lắng đợi chiếc “x́-bo” hai chỗ ngồi của cái ông mặc áo con chim con c̣. Chàng tưởng tượng cô Ma-rỉ đang uyển chuyển bước ra mở cửa, rồi nhảy ra sân bá lấy cổ lăo cao-bồi già.

Mười một giờ, chàng băn khoăn sao lăo thầu khoán chồng cô Ma-Lên lại không về như mọi bữa khác.

Thế nầy th́ đến chết thôi trời ơi !

Mỗi ngày đi làm bốn buổi, Khánh đều ghé qua cô hàng thuốc lẻ ở đầu đường V. v́ ở đó có đèn đỏ, không ngừng cũng không được. Mà ngừng một lần th́ nó bắt ngừng hoài v́ cô bán thuốc mặt rổ hoa mè trông có duyên ớn.“ (Ngơ Hẻm Vợ Bé).

C̣n đây là sự bực dọc của một cậu học tṛ đang yêu mà bị ngăn trở:

Bà cụ nầy quả là tay gớm lắm chớ không vừa đâu: Bà ta rào con, mà không rào bằng vách tường, sợ Sanh nó nản chí rồi bỏ đi, mà chỉ rào bằng song ly sắt thôi. Thành ra:

“Thấy em như thấy mặt trời,

Thấy thời thấy vậy, trao lời khó trao.”

Người yêu đă vậy, đến cha mẹ càng đáng chán hơn nữa:

Sanh viết thơ về mấy lần, tỏ thiệt nỗi khổ của ḿnh cho cha mẹ nghe, yêu cầu ông bà lên coi mắt Chi cho cậu. Nhưng ông bà cứ giả câm giả điếc, không thèm đáp thơ, chỉ gởi tiền thôi, mà gởi vừa đủ tiền cơm và xe pháo“.

Cho nên cậu ta đau khổ mà kết luận :

Thiệt là hết hy vọng. O con Chi không được, mà quyết cưới nó cũng chẳng xong” (Bổn Cũ Soạn Lại)

Lối phân tích như thế ta thấy rải rác khắp nơi trong tác phẩm của ông. Dường như cặp mắt tinh quái của tác giả soi mói khắp nơi trong tâm hồn người ta, không chừa một hang hốc nào cả.

Mỗi khi đọc B́nh-nguyên Lộc tôi lại liên tưởng đến Tô Hoài, một nhà văn tiền chiến người Bắc. Tô Hoài cũng có lối hành văn duyên dáng như B́nh-nguyên Lộc nhưng tất nhiên tính chất cũng như nghệ thuật của hai người khác hẳn nhau. Tô Hoài dí dỏm hơn nhưng truyện có vẻ buồn lại thiên về tuổi trẻ c̣n B́nh-nguyên Lộc th́ dễ dăi, truyện lúc nào cũng vui và thích hợp với đủ hạng người. Tôi mến hết cả hai v́ nhờ họ mà tôi hiểu rơ hơn tâm hồn con người của hai vùng khác nhau của đất nước để yêu mến đồng bào của tôi nhiều hơn. Cái duyên của con người là một vật quí, nó giúp ta trẻ măi không già. Trong văn chương, cái duyên lại càng cần hơn nữa. Và tôi buồn biết bao nhiêu khi không may đọc phải những gịng chữ vô hồn, trang sức một cách trơ trẽo mà không chứa đựng một chút ǵ.

Mấy năm gần đây B́nh-nguyên Lộc hầu như đă từ bỏ địa hạt tiểu thuyết để bước sang lănh vực khảo cứu. Nhưng v́ cốt tính của ông vẫn là cốt tính của nhà văn và đức tính thực tế nơi ông mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là một điều kiện đủ để giúp ông thành công trong lănh vực mới. Và người đọc, dù không nói ra, vẫn lấy làm tiếc khi thấy một tác giả thân yêu của ḿnh đă có vẻ mệt mỏi trong ngành sáng tác.

 

Thời Tập, số 12, 1974