B́nh-nguyên Lộc

Nhà văn của tâm lư đời sống hàng ngày

Cao Huy Khanh

 

Từ những truyện ngắn đầu tay (Nhốt gió, Kư thác l959) qua đến loại truyện dài mà cực điểm thành công là Đ̣ Dọc bên những Gieo Gió Gặt Bảo 1959, Quán Tai Heo 1960, Nhện Chờ Mối Ai l962, Hoa Hậu Bồ Đào 1963... ư hướng sáng tác cốt yếu của B́nh-nguyên Lộc vẫn là một ư hướng thuần nhất: phân tích tâm lư. Nhưng đây là một thứ tâm lư rất b́nh dân, rất thục tế v́ đó là tâm lư thường t́nh của đám dân dă thuộc giới trung lưu khi phải đối đầu với thực tế. Thật vậy, những vấn đề phức tạp mà cái thực tế của nếp sống văn minh vật chất của xă hội mới (xuất hiện tại miền Nam từ sau đệ nhị Thế chiến) đặt ra cho những cá nhân/nhân vật buộc họ phải giải quyết, đó là đề tài tâm lư căn bản của B́nh-nguyên Lộc: sự cám dỗ của đời sống vật chất thành thị khiến con người dễ hư hỏng hay biến tính từ trong phạm vi sinh hoạt gia đ́nh (Giẹo Gió Gặt Băo, Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương) ra đến ngoài xă hội (Nhện Chờ Mối Ai, Nửa Đêm Trảng Sụp, Hoa Hậu Bồ Đào).

Đặc biệt nhất là đề tài đó lại hướng về mội đối tượng chọn lọc: giới dân quê mùa vừa từ quê lên tỉnh bắt đầu gia nhập nếp sống thành thị mới (tập trung tại đô thành hay ở các thành thị miền Đông Nam phần [1]). Từ đó tiểu thuyết B́nh-nguyên Lộc mang một sắc thái tâm lư khá kỳ quặc bởi sự pha trộn giữa (cá tính tâm lư) thành thị và thôn quê khiến nhân vật của ông vừa hồn nhiên vừa thực tế, vừa b́nh dân vừa gian ngoa. Như cái t́nh trạng bất thích ứng của người thành thị sống ở thôn quê (Đ̣ Dọc) hay ngược lại là cái t́nh trạng tâm lư bất thích ứng của người dân quê sống ở thành thị (NhChMA, HHBĐ…). Cho nên điều rất dễ thấy là hầu hết các nhân vật tiểu thuyết của B́nh-nguyên Lộc đều có chung một phong thái một cá tính: nửa quê nửa tỉnh.

Những đề tài tâm lư b́nh dân và thực tế kể trên được B́nh-nguyễn Lộc khai thác bằng một kỹ thuật phân tích tỉ mỉ. Kỹ thuật này chú trọng đào sâu các chi tiết biến chuyển về tâm lư thật nhỏ nhặt trong nếp cảm nghĩ của mỗi người, chẳng hạn: “Long muốn nói là sợ Quá biết chàng nói thật. Nhưng chàng chợt thấy lời ấy sẽ làm khổ Quá không biết đến đâu, cho nên chàng không dám nói ra. Sự im lặng của chàng lại khiến Quá nghĩ anh chàng sợ ḷi sự giả-dối ra./Ngộ nhận ấy đă giúp Quá yên ḷng, và cứ đi sâu măi trên nẻo đường hiểu lầm của cô./Long không có can-đảm làm mích ḷng con gái, mặc dầu cái mất ḷng ấy chỉ nhỏ thôi. Như vậy ngày kia chàng sẽ phạm phải mích ḷng to./Chàng biết thế mà vẫn không dám chấm dứt t́nh trạng không phân minh ấy, mà mỗi lần có chuyện úp mở là chàng hối-hận đến hai ba hôm” (ĐD, tb 1973, 195)+ “Liên nghe qua th́ biết Sang năy giờ vẫn c̣n ngồi đó đợi Ngọc về mới cởi giầy. Ngọc tưởng hắn cũng chỉ mới về trước đây một phút thôi. Không lư ǵ mà Ngọc nói đến giày vớ khi Sang đang làm công việc khác./Liên hồi hộp quá. Chỉ phải phát ra có một cử chỉ nhỏ là ném gói kẹo vào cũi đồ ăn, vào giờ đi chợ thế là phi tang. Vậy mà nàng làm không được như là gói kẹo nặng quá, chân của nàng cũng nặng như bị trồng dưới đất, khó bước đi vô cùng. / Rốt cuộc nàng cũng xóa được dấu vết của tội lỗi (?) nhưng vẫn không hết hồi hộp.” (NhChMA, cuổn 2, 18). Mặc dầu áp dụng sự phân tích tâm lư ở đây nhưng không v́ thế mà nghệ thuật tâm lư của B́nh-nguyên Lộc trở thành sâu sắc bởi v́ thực sự cái chủ trương phân tích tâm lư đó không được đặt trên một căn bản lư thuyết nào vững chắc và mới lạ.

Đó chỉ là một căn bản tâm lư thông thường. Ấy, chính là cái nề nếp (sinh hoạt) tâm lư hàng ngày của con người trong đời sống: quanh quẩn những chuyện vụn vặt không đâu, nghĩ lui nghĩ tới những điều lẩn quẩn (những vụ giựt chồng, mất vợ, ngoại t́nh, lường gạt, kiếm cơm, vay nợ, sinh con đẻ cái...). Thành ra cuối cùng trở thành một thứ tâm lư tạp nhạp tủn mủn, đôi khi c̣n nhuốm cái vẻ lư luận không đi tới đâu mà cũng chẳng có ư nghĩa nào đặc sắc: “Thật là cố lỳ, nhưng yêu th́ không thể 1ịch sự được. Kẻ yêu luôn luôn điên gàn và nhất là không biết điều. Tránh được những cái tệ đó là yêu ít, yêu có chừng mực rồi vậy.” Cho nên không phải là một điều t́nh cờ khi đa số các nhân vật chính trong tiểu thuyết B́nh-nguyên Lộc đều thuộc phái nữ mà điển h́nh nhất là cái cảnh âm thịnh dương suy trong Đ̣ Dọc; và ngay các nhân vật nam cũng nhiểm luôn cái tâm lư đàn bà tính đó không kém.

Tâm lư b́nh dân và thực tế, đó mới chính là cái bản sắc văn chương của riêng B́nh-nguyên Lộc t́m thấy trong hầu hết các tác phẩm của ông, ngay cả đối với một vài truyện ngắn mang ư hướng và sắc thái khác hẳn, Những truyện ngắn này dễ khiến người ta ngộ nhận về khuynh hướng sáng tác cốt yếu của ông đặc biệt là truyện Rừng Mắm, trong Kư Thác. Thật ra truyện Rừng Mắm chỉ là một trường hợp hiếm hoi trong toàn thể sự nghiệp sáng tác của B́nh-nguyên Lộc trong đó màu sắc phong tục đồng quê miền Nam nổi bật một cách đặc biệt. Nhưng đồng thời một vài truyện ngắn nói đó vẫn nằm trong ḍng văn tâm lư b́nh dân bởi chủ đích phân tích tâm lư thường nhật cũng như bởi ư nghĩa luân lư lành mạnh lạc quan vẫn c̣n được B́nh-nguyên Lộc giữ lại nơi đây: đó là trường hợp những truyện Không Trốn Nữa trong Nhốt Gió. Rừng Mắm + Ba Con Cáo + Ba Sao Giửa Gới/ Trong Kư Thác. Nhất là cái ư nghĩa luân lư, lành mạnh lạc quan, thái quá đến độ trở thành vui tươi khỏe khoắn vốn luôn luôn hiện rơ trong các truyện dài tâm lư của ông, theo đúng truyền thống (văn chương Nam Kỳ): truyện B́nh-nguyên Lộc luôn luôn đưa đến những kết cuộc “có hậu” (hiếm thấy có những biến cố bi thảm xảy ra trong truyện, ngay như những biến cố có vẻ bi thảm nhất của Đ̣ Dọc, một vụ tự tử và một vụ suưt bị mất chồng, cuối cùng đều bất thành cả) Cho nên dù là trước truyện dài hay truyện ngắn của B́nh-nguyên Lộc, người đọc cần phải đặt những tác phẩm đó vào trong khuynh hướng tâm lư mới mong hiểu được thật xác đáng cái sắc thái văn chương đặc biệt của ông [2].

B́nh dân và thực tế, đó là sắc thái văn chương đặc biệt của B́nh-nguyên Lộc nói về mặt nội dung. Nói về mặt h́nh thức, phải thêm đặc điểm này nữa là dễ dăi, quá dễ dăi. Bởi v́ hầu như ông không bận tâm và cẩn trọng đúng mức để săn sóc đến phần h́nh thức nói chung của tác phẩm ḿnh. Trước hết kỹ thuật thuật sự cổ điển ở đây (truyện ngắn cũng cùng một cách như truyện dài) được sử dụng một cách quá dễ dàng, thường khi hỗn độn (thói quen ưa ngâm vịnh trong truyện, thóỉ quen xen vào trong truyện để thay thế nhân vật mà lư luận). Ví du: “Ở thôn quề miền Đông, nhứt là ven các con lộ, không hiểu tại sao trong ṿng mười lăm năm nay cỏ bù xít mọc nhiều quá./ Các bạn biết thứ cỏ ấy hay chăng ? Đó là thứ cỏ ….” ĐD 214 hay: “Chàng trai mong đợi bắt cóc cô chờ măi không biết từ bao năm rồi. Nay hắn vừa đến, xem chừng đă yêu một người trong mấy chị em, chưa biết rơ người nào, th́ chàng trai khác lại đến nữa. Khi bất cập, lúc thái quá như vậy, không rối ḷng sao được”,(185). Đến cách kết cấu th́ lộn xộn, bởi sự ôm đồm các t́nh tiết phức tạp mà thừa thải, muốn tạo sự dồn dập gay cấn cho diễn tiến của cốt truyện nhưng lại thiếu sự chọn lọc cẩn thận và khéo léo các t́nh tiết ṇng cốt nên rốt cuộc câu chuyện thành ra dài ḍng. Bút pháp B́nh-nguyên Lộc được cái giản dị, quá giản dị. Ông xuống ḍng bất cứ lúc nào trong khi văn đối thoại bị lạm dụng tối đa - hơn cả Sơn Nam - và càng về sau càng có tính cách thiên về lư luận, dĩ nhiên là khô khan tuy không nặng nề.

Có một đặc điểm về giá trị h́nh thức trong tiểu thuyết B́nh-nguyên Lộc, giúp tác phẩm đạt được quyến rủ vui tươi và thoải mái, ấy là cái phong thái kể chuyện đượm đầy hài tính, cái giọng điệu hài hước một cách thong dong và khỏe khoắn của ông: “Tác giả thiên truyện vơ hiệp “Sơn đông kiếm hận” lục lạo khắp cả các ngăn của chiếc bóp phơi của chàng mà chỉ t́m được có mười bốn đồng nằm ở ba nơi khác nhau. Chàng mừng rỡ biết bao mà chợt nhận ra rằng c̣n một ngăn nữa, ngăn bí mật rất khó thấy v́ nó lẫn với bao ngoài của cái bóp. Chàng thọc lay vào và  tim chàng bỗng đập th́nh th́nh v́ đầu ngón tay chàng đụng phải thứ giấy mềm quen thuộc. /Dương Châu kẹp tờ giấy ấy bằng hai đầu ngón tay rút ra th́ ô hô, đó lá tờ giấy hai đồng” (Quán Tai Heo, 76). Giọng văn đó đem lại sự thú vị thoải mái nhờ pha lẫn vớí giọng điệu kể chuyện gọn gàng và thảnh thơi theo kiểu truyện Tàu: “Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi [3]. / Đây là chốn mà mộng đời cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xă hội loài người / Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài ṿng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự (KTh, 56) Thế nhưng nhiều khi giọng văn hài hước đó lại bị tác giả lạm dụng quá thành ra giỡn hớt bông lơn không đúng chỗ không đúng lúc, nhất là ngay đối với những biến cố đặc biệt của câu truyện. Những biến cố có vẻ sôi động, bi thảm vốn dĩ đă hiếm hoi trong truyên của ông, thỉnh thoảng nếu có chăng nữa th́ cũng bị khôi hài hóa hết khiến rốt cuộc câu truyện bị mất thăng bằng bởi thiếu mất trọng điểm cực điểm hấp dẫn của nó [4]: “Chàng cũng đang bị bỏ tù trong một ḥn đảo như thế, đảo ái t́nh, và làm sao mà chàng ra đó, và ra bằng cách nào ? Quên mất rồi. Giờ th́ nghe bực bội, nhưng quanh cù lao yêu đương đă có những ḍng nước vô h́nh - nước mắt của ai chăng ? - ngăn chàng lội trở vào bờ ! “Quán hai heo, anh hùng lâm đại nạn.” Đại nạn là đây, là mối t́nh cạn xợt này, tuy cạn nhưng vẫn chết đuối trong đó được như thường (QTH, 75-76).

Mọi sự đều trở thành dễ dăi qua tay B́nh-nguyên Lộc (viết văn như một việc giỡn hớt, đùa cợt cho vui, dễ như bỡn: để ư ngay cách đặt nhan đề tác phẩm thật dễ dàng của ông). Điều này có thể được giải thích bởi nhiều lư do chung và riêng: lư do chung là ảnh hưởng của truyền thống kể chuyện đời b́nh dị và rầt mực tự nhiên của người dân miền Nam; cùng ảnh hưởng của nghề làm (nhật) báo chuyên nghiệp [5],[6]; lư do riêng là ảnh hưởng của cá tính ưa thích sự phân tích lư luận bác tạp  rộng về bề mặt nhưng thiếu chiều sâu của riêng ông [7] cũng như cái ảnh hưởng quá sâu đậm của xu hướng sáng tác và cái văn phong cực cổ điển mà ông từng tiếp nhận và thừa hưởng trước kia [8].

Bởi thế xét về toàn thể th́ đến nay một thành công của Đ̣ Dọc (có kết cấu linh động, kỹ thuật thuật sự trong suốt, xây dựng tâm lư ư nhị, hành văn trôi chảy đối thoại duyên dáng hơn cả) vẫn không đủ sức để cứu văn giá trị cho sự nghiệp văn chương thiên về lượng hơn là về phẩm đó. Nh́n theo quan điểm văn học sử th́ sự phê phán giá trị một nhà văn phải được đặt căn bản trên một sự phẩm định tổng quát và toàn diện hướng về toàn bộ (nếu không th́ cũng là đa số) sự nghiệp văn của nhà văn đó chứ không thể chỉ căn cứ trên một vài tác phẩm riêng rẽ không thôi [9]. Hơn nữa, sự thành công duy nhất và quá hiếm hoi của Đ̣ Dọc [10] so với sự nghiệp sáng tác đồ sộ của tác giả vẫn không phải là một điều ǵ có vẻ khó hiểu bởi đó là hậu quả tất nhiên của sự loại trừ một ư thức (văn chương) đúng đắn và nghiêm chỉnh nơi ông: Vốn dĩ ông đă tỏ ra khá xem nhẹ cái công phu viết văn rồi không một mảy may bận tâm đến việc gạn lọc, trau chuốt hay cải tiến h́nh thức và kỹ thuật của tác phẩm mà càng về sau việc sáng tác c̣n bị xu hướng biên khảo lấn áp nữa.

Cho nên cuối cùng có thể nói cảm t́nh mà người ta dành cho B́nh-ngụyên Lộc có vẻ nay đă không c̣n giữ được nguyên vẹn nữa cho giá trị văn chương đích thực xứng đáng của ông; nhưng phải nói đó là mối cảm t́nh - điều ǵ c̣n lại - dành cho tâm hồn b́nh dị và cởi mở cho thái độ sống thong dong dễ dăi thật đáng mến của ngườị dân miền Nam mà B́nh-nguyên Lộc đă thể hiện được toàn vẹn qua phong cách làm văn đặc biệt của riêng ông.

 

Thời Tập, số 12, 1974

 



[1] Khác với Sơn Nam vốn có bối cảnh và nhân vật hoàn toàn thuộc về các vùng nông thôn miền Tây Nam phần.

[2] Nếu không, giả dụ coi truyện Rừng Mắm thuộc khuvnh hướng phong tục chẳng hạn th́ ngay cái truyện ngắn thưộc vào loại thành công nhất này của B́nh-nguyên Lộc (vốn thường được ca tụng) vẫn tỏ ra xa lạ với những truyện ngắn về phong tục của Sơn Nam .

[3] Ư tưởng này tác giả có gi chú là mượn của người khác.

[4] B́nh-nguyên Lộc có phân ra một loại gọi là “Truyện Vui”  trong các tác phẩm của ông mà điển h́nh là tập truyện Tâm Trạng Hồng (xem Nguiễn Ngu Í: Sống Và Viết, 231). Nhưng thiết tưởng cái tính cách “truyện vui” đó, ngoài ư nghĩa riêng biệt dành riêng cho một thể loại tác phẩm như trên, vẫn c̣n bao hàm một ư nghĩa chung nằm trong cái ư hướng sáng tác nồng cốt của ông vốn thể hiền một cách đều đặn trong tất cả các tác phẩm khác (tuy không được tác giả xếp vào “Truyện Vui”)

[5] Tác giả đồng thời là một nhà báo kỳ cựu tại miền Nam, tự biện hộ: “Đời sống hiện nay ở Âu Mỹ đă vội vàng hối hả lắm rồi, ở nước ta nhịp sống cũng bắt đầu quay nhanh, cái th́ giờ giành cho việc gọt giũa tác phẩm ḿnh, “sửa đi sửa lại đến … hai mươi lần” như lời khuyên của một nhà phê b́nh gia Pháp ở thế kỷ XVII: là điều ít ai làm được (?) – Xem Nguiễn Ngu Í: Sống và viết 232 – Đáng tiếc là một lời biện hộ cũng tỏ ra dễ dăi quá đáng nữa !

[6] Cả hai lư do chung này cũng áp dụng cho trường hợp Ngọc Linh nữa (xem bài kế tiếp).

[7] Nhắc lại: công tŕnh nghiên cứu sử học xứng danh đầu tiên của B́nh-nguyên Lộc là tác phẩm vĩ đại Nguồn Gốc Mă Lai Của Dân Tộc Việt Nam chính thức xuất hiện từ đầu thập niên 70 đă từng gây chấn động (rất bất ngờ) một thời trên văn đàn miền Nam. Ngoài ra cũng nên nhớ là về sáng tác, ngoài loại tiểu thuyết, ông c̣n viết đủ các loại văn và các văn khác; cũng như về biên khảo, ngoài địa hạt sở học, ông c̣n nghiên cứu nhiều loại đề tài thuộc những địa hạt khác nữa. Tổng kết lại, B́nh-nguyên Lộc có cả một sự nghiệp (nói chung) thật khổng lồ (Xem Nguyễ Ngu Í – sđd 241-245).

[8] Đây là một nhà văn thuộc vào hàng kỳ cựu nhất trong giới nhà văn miền Nam v́ ông đă bắt đầu hoạt động về báo chí và văn học từ đầu thập niên 40.

 

[9] Tác giả tự phân bày “khi mà ai cũng vội vàng cả th́ người ta sẽ đánh giá trên cái ǵ c̣n lại của mỗi nhà văn trong không khí hấp tấp đó” (Nguiễn Ngu Í: sđd, 232). 

[10] Về sự thành công của Đ̣ Dọc, có một điểm cần lưu ư: cốt truyện của tác phẩm này đă được gợi ư từ một vở kịch ngoại quốc như lời công nhận của tác giả (Ghi chú đầu sách – Xem thêm: Phỏng vấn B́nh-nguyên Lộc trong giai phẩm Thời Tập số 5, 4/74, tr. 80). Dĩ nhiên sự ghi nhận này không có nghĩa là để phủ nhận  hay xét lại giá trị của công tŕnh sáng tác rất xứng đáng này của B́nh-nguyên Lộc v́ nếu có mượn ư chăng nữa th́ đây vẫn là mỗt tác phẩm thuộc loại siêu – phóng – tác.