B́nh-nguyên Lộc

Bàng Bá Lân

 

Tên thật là TÔ-VĂN-TUẤN. Sinh ngày 7-3-1914 tại làng Tân-Uyên tỉnh Biên-Ḥa (Nam-Việt) trong một gia-đinh thuộc thành-phần tiểu tư sản.

Từng làm công-chức cho đến năm 1945. Sau đó viết văn và viết báo chuyên nghiệp.

Đă viết rất nhiều truyện ngắn và tiểu-thuyết. Tất cả đều đă đăng báo; có một số đă in thành sách như Nhốt gió (truyện ngắn, 1950); Đ̣ dọc (tiểu-thuyết 1958); Gieo gió gặt băo (tiểu thuyết, 1959); Tân Liêu-trai (lấy bút hiệu là Phong-Ngạn, 1959); Kư thác (truyện ngắn, 1960); Nhện chờ mối ai (tiểu thuyết, 1962); Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (tiểu thuyết, 1963); Mối t́nh cuối cùng (tiểu thuyết, 1963); Tâm trạng hồng (truyện ngắn, 1963); Hoa hậu Bồ Đào (tiểu thuyết, 1963); Bóng ai qua ngoài song cửa (tiểu thuyết, 1963); Xô ngă bức tường rêu (tiểu thuyết, 1963).

 

Tôi nghe danh B́nh-nguyên-Lộc từ khi mới di cư vào Nam (l954), nhưng chưa đọc văn anh bao giờ. V́ lúc đầu tôi c̣n phải lo thu xếp chỗ ở cho gia-đ́nh, lo chạy gạo nuôi con; kế đó th́-giờ dạy học choán mất hết cả ngày tháng, không có cả đến th́-giờ đọc sách, mà truyện dài truyện ngắn của anh th́ đăng lần lần trên các báo hằng ngày bên cạnh những truyện t́nh-cảm rẻ tiền, những truyện vơ-hiệp phi lư tuy hợp với thị hiếu b́nh-dân nhưng lại làm nản ḷng thức-giả.

Do đó, một người mỗi ngày chỉ có thể bỏ ra năm, mười phút để liếc qua tờ báo hằng ngày coi những tin tức quan trọng như tôi th́ làm sao mà theo dơi anh được, dù rất muốn.

Măi đến năm l959, tôi mới nhận được cuốn Đ̣ dọc của anh gửi cho, do một bạn văn chuyển giúp. Cái nhan-đề rất gợi cảm của cuốn truyện đă làm tôi chú ư. Chưa đọc truyện mà trí tưởng tượng của tôi đă làm việc rất lung: Tôi nghĩ đến sông đến nước, đến những chuyến đ̣ dọc nên thơ của thời thanh-b́nh, đến những chuyến đ̣ dọc rất lộn-xộn của thời loạn lạc vừa qua, đến câu “mười hai bến nước, một con thuyền”, đến những vần thơ của Huy-Cận:

Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy ḍng.

Lơ-thơ cồn nhỏ gió đ́u-hiu,

Đâu tiếng làng xa văn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót-vót,

Sông dài, trời rộng bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh-mông không một chuyến đ̣ ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng-lẽ bờ xanh tiếp băi vàng.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.

Ḷng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng-hôn cũng nhớ nhà.

(Lửa Thiêng-. Trường giang)

Ngâm xong mấy vần thơ du-dương và gợi cảm trên này, tôi mới thong-thả, mở sách ra thưởng thức… Nhưng tôi bỗng cảm thấy như lạc lơng. Khác hẳn với những điều dự tưởng, tôi không thấy có thuyền có bến, có trời rộng sông dài, có những cô lái đ̣ xinh xắn với câu ḥ giọng hát đưa duyên…

Tôi bị lạc vào giữa gia-đ́nh ông bà Nam-Thành với bốn cô con gái có những cái tên đặt rất ngộ theo điệu ca b́nh-bán: Hương, Hồng, Hoa, Quá, Thơm.

Trên kia, tôi nói bốn cô mà sao lại có những năm tên ? Ấy là v́ cô Thơm đă chết ngay từ buổi sơ sinh, nên điệu ca b́nh-bán ở đây thiếu tiếng âm bằng sau cùng, đă tắt nghẹn ngay ở tiếng trắc thứ tư như nuốt sự nghẹn-ngào đau xót !

Mà quả thực gia-đ́nh ông bà Nam-Thành đang gặp cảnh đau xót nghẹn-ngào, nói không trôi mà để bụng cũng không đành: gia-đ́nh này đang gặp phải hồi sa sút. Không giải quyết nổi đời sống ở đô-thành, họ đành rút lui về vườn theo quyết định của người gia-trưởng. Đó là một sự hi-sinh lớn của bốn cô gái từng được ăn học và quen sống đời sống thị-thành, nhất là cả bốn cô đều đến - nếu không muốn nói là quá - tuổi lấy chồng, v́ cô lớn đă hai mươi tám tuổi và cô út cũng đă hai mươi hai.

Đó là nỗi lo âu thường nói ra miệng của bà Nam-Thành, nỗi lo âu kín đáo của ông Nam-Thành và nỗi lo buồn âm-thầm của bốn cô con gái. Nhưng họ ráng ḥa ḿnh theo nếp sống ở thôn quê và gia-đ́nh ấy tiếp tục sống những ngày ḥa thuận yên vui trong sự đợi chờ an phận. Bỗng một tai nạn xe hơi xảy ra ngay trước cổng Thái-huyên trang (tên cái thôn-trang của ông bà Nam-Thành) mà nạn nhân là một thanh-niên chưa vợ, một họa-sĩ tài-hoa. Anh chàng này chỉ bị thương soàng, nhưng được gia-đ́nh ông Nam-Thành săn sóc quá chu đáo. Thế rồi giữa Long (tên chàng thanh-niên) và mấy cô gái, cảm-t́nh nẩy nở nhanh chóng và sóng gió bắt đầu nổi làm xáo trộn cả cuộc đời trầm lặng ở Thái-huyên trang, suưt gây nên cảnh đổ vỡ, tang tóc… Nhưng rồi sau cơn giông trời lại tạnh ráo sáng sủa, trật-tự được văn hồi êm đẹp đồng thời nỗi lo âu chính đáng của ông bà Nam-Thành cũng hết, nhờ Bằng (người anh họ tốt bụng, hết ḷng lo lắng cho tương lai của các em gái) và Long “chiếc đ̣ dọc đă t́nh cờ ghé bến trên ḍng thiên-lư”.

Rốt cuộc ông bà Nam-Thành cũng gả chồng được cho ba cô con gái trừ cô Hương đă luống tuổi, đành sống nốt chuỗi ngày cô đơn cho đến măn chiều, nhưng cô biết lấy cái vui của những người thân yêu làm cái vui của ḿnh, v́ tâm-hồn cô là một tâm-hồn dịu hiền sẵn sàng hi-sinh và an phận.

Truyện được tác-giả tŕnh bày rất hấp đẫn. Tôi đă theo dơi một cách thú vị và trước khi gập sách lại, tôi đă thở phào khoan-khoái, chia vui với ông bà Nam-Thành khi nghe hai người đàm thoại:

“Chú rể Long rước cô dâu Hồng đi xong, chiều lại ông bà Nam-Thành ngồi nhơi cái hiu-quạnh của ḿnh.

Để cho vui nhà, ông Nam-Thành nh́n bà, và cười tự đắc mà nói:

-  Bà thấy hay không ? Rồi cũng gả trôi hết ba đứa, có ế ẩm ǵ đâu mà bà cứ theo cằn-nhằn tôi đến nhức xương ?

-  X́, ông không biết cái khỉ khô ǵ hết ! Hỏi thằng Bằng nó nói cho mà nghe. Gả trôi ba đứa là công lao của thằng Bằng và của cả thằng Long nữa. Nếu ngồi đó mà đợi, th́ con ḿnh sẽ thành đá vọng phu hết trọi ! Ông nên biết rằng trường-hợp của ḿnh là trường-hợp đặc biệt. Tai nạn xe hơi không bao giờ diễn lại lần thứ nh́ ở gia-đ́nh khác mà cùng cảnh với ḿnh. Ông nghe chưa ?

-  Nhưng việc chánh là gả được con, mà ḿnh đă gả được !

Rồi ông cười ha hả để đánh trống lấp.”

Tôi chắc những ai có nhiều con gái đến tuổi gả chồng, nặng ḷng thương con và lo lắng cho tương lai của chúng, đọc đến đây sẽ thông cảm nhiều với ông bà Nam-Thành vậy.

Tôi chưa đọc hết những tác-phẩm đă đăng báo của B́nh-nguyên-Lộc; nhưng qua những truyện đă in thành sách của anh, tôi thấy cuốn Đ̣ dọc xuất sắc hơn cả và có thể coi là một thành công [1]

Ngoài lối thuật chuyện nhẹ-nhàng, hấp dẫn, c̣n những mẩu đối thoại dí-dỏm, những đoạn văn bay bướm, những đoạn tả cảnh duyên dáng gợi cảm, gợi h́nh. Xin trích in mấy đoạn để bạn đọc cùng nhận xét.

Trước hết là đoạn văn tả đêm đầu tiên ở thôn-trang của bốn cô gái thị-thành cùng nỗi buồn nhớ của họ trước nếp sống thay đổi quá đột ngột.

„Qua trĩ long mốt, hoàng hôn xuống ngập đồng vắng. Đây là buổi chiều đầu tiên mà bốn cô con gái sống ở thôn quê. Ḷng họ bỗng nghe buồn minh-mông quá, khiến họ kinh ngạc cho số phận họ, mới hồi sáng c̣n ở chốn phồn-hoa đô-hội, rồi chớp mắt một cái th́ bây giờ đă ngồi giữa cảnh đ́u-hiu, cô-quạnh nầy, và không biết về sau sẽ ra sao.

Ông Nam Thành có sắm một cây đèn măng-sông, mua xăng, mua rượu đủ cả. Nhưng ông nói thắp đèn sáng quá sợ người ta để ư ngỡ gia-đ́nh giàu-có dư-dả lắm, rồi trộm cướp nó ṃ tới. Nên chi họ thắp đèn dầu hôi .

Cây đèn vặn ngọn lên cao th́ un khói, c̣n hạ thấp ngọn ánh sáng vàng vàng cũng phủ lên buồng khách một màu dơ-dáy, ủ-rũ và bịnh hoạn.

Những con sâu con trùng ǵ không biết, ở đâu ngoài cỏ nội bay ùa vào đâm đầu vô ống khói rồi chết thiêu rơi xuống đầy mặt bàn. Có một mớ lại rơi ngay trong ống khói đèn và lớp xác sâu cứ càng lúc càng dày lên.

Lúc ấy vào cuối tháng tư, tạo-hóa chuyển ḿnh một cách đau đớn để bước sang mùa khác, nhưng bước c̣n do-dự ngập-ngừng nên vạn vật dưới đây bị đè bẹp dí xuống.

Không bảo nhau, cả nhà đồng đứng lên, đi ra ngoài.

Mặc dầu nực, trời không mây. Sân sáng sao, trông mờ mờ như hừng đông. Vài con đôm-đốm nở trước mùa, xẹt qua lại trên không trung thành những lằn nhỏ dài như những mũi kim vàng. Đèn nhà ai le-lói đằng xa và xa nữa rừng mờ đen trên chân trời trong hơn một tí.

Trên ṿm trời, sao dầy-đặc như về cơm cháy. Đó là muôn ngàn đầu cây đinh bằng vàng đóng trên một tấm trần đen.

Thỉnh thoảng một cây đinh long ra, rơi đi đâu không biết.

Bốn cô con gái đều ngó về hướng nam. Một vầng ánh sáng bừng lên ở chơn trời hướng đó, như mặt nhựt sắp lú lên vào buổi b́nh minh.

Đó là ánh sáng đô thành mà mới hôm qua đây họ c̣n sống lộn trong đó. Mới hôm qua nầy ? Ừ ! Nhưng sao mà nghe như lâu quá rồi, nghe như xa lắm rồi. Nỗi nhớ xứ, nhớ nhà minh-mông như là họ đă ĺa khỏi quê cha đất tổ.”

Và đây là một đoạn nữa có thể lấy nhan-đề là “Một buổi chiều ở thôn-quê”:

“Sau ba bốn ngày nóng bức, gió nồm thổi dữ. Trái sao trái dầu có cánh ở đâu bay tới như mưa, quay tṛn như con vụ trên không trung rồi rơi xuống đầy sân.

Không khí buồn tẻ ở Thái-huyên-trang nhờ thế, đỡ lạt phần nào.

Chiều chiều bốn cô con gái đợi gió. Hễ gió nổi lên là họ vui như các thứ quả có cánh ấy là những bức tâm-thơ của người xứ xa gởi đến.

Trái sao, trái dầu bay đẹp mà rơi cũng đẹp. Nhưng trái trắc bay trông lại buồn cười. Cánh của thứ trái ấy không chia ra hai nhánh, hoặc bốn nhánh mà lại bao quanh tṛn cả trái. Trái trắc, nếu gió to th́ bay cuồng loạn lộn nhào, c̣n nếu gió nhẹ, th́ bay như dĩa bay mà các cô thấy trong chiếu bóng.

Thú nhứt là rượt bông lồng-mức. Bên kia đường , một cây lồng-mức già trụi lá đứng đó bồi thêm vài vệt buồn vào cảnh khô hạn ở Xóm Thuốc này.

Trái lồng mức tṛn mà dài như trái đậu bắp. Chiều chiều, vỏ cứng như vỏ ṣ của trái ấy nổ tách ra làm hai rồi thả ra muôn ngàn cái bông trắng, bay như tuyết đổ.

Bông gồm một hột vàng nhỏ như hột lúa, trên đầu hột lông trắng, mọc tua tủa ra, lông mịn như tơ, mà cong như lông mi, dùng làm cánh, đưa hột vàng về những nơi xa lạ.

Nhiều bông quá nặng, cánh chở không nổi, sa xuống trên sân, nhưng vẫn bay là là ngang đầu người chớ không chịu rơi xuống đất.

Các cô rượt bắt mớ bông ấy, ai bắt được một chiếc th́ sung sướng vô cùng. Chỉ ṿ mớ lông trắng mịn giữa hai ngón tay cũng đủ vui vẻ một buổi chiều trống rỗng.”

(Đ̣ dọc)

Tôi có nghe một vài nhà văn tỏ ư kiến về truyện Đ̣ dọc, nói rằng “Truyện này phảng phất giống một tiểu thuyết của tây-phương và, v́ thế, nó có vẻ ... tây !”.

Có lẽ v́ mấy lời đề tặng mà tác-giả cho in ở đầu sách: Kính tặng J.J. Bernard, người sáng tạo “kịch thuyết ít lời” mà vở kịch danh tiếng “Con đường quốc gia số 6” đă gợi hứng cho tôi.

Hoặc giả các bạn ấy ám chỉ truyện “Les quatre filles du docteur March” của Lm. Alcott và P.J. Stahl ?

Tôi cũng nhận có vài điểm giống, như: đoạn đầu tác-giả cho biết gia-đ́nh họ March trước kia giàu có nay mới sa sút; rồi cũng có bốn chị em gái sống ḥa thuận thương yêu nhau, và này tâm-hồn dịu hiền của cô Hương cũng là tâm-hồn dịu hiền của cô Beth, c̣n cô Quá th́ dạn-dĩ nghịch ngợm chẳng khác ǵ cô Jo (tên Joséphine gọi tắt), v. v...

Tôi không biết B́nh-nguyên-Lộc đă có đọc truyện. “Les quatre filles du docteur March” hay không ? Nhưng, theo tôi, những điểm tương tự ấy không đáng kể, và Đ̣ dọc không v́ thế mà bảo là giống “Les quatre filles…” và nó vẫn là tiểu-thuyết sáng tác có giá trị của B́nh-nguyên-Lộc. C̣n chê là “có vẻ tây” th́ cũng hơi quá ! Bốn cô con gái ông Nam-Thành tuy mới, nhưng vẫn có cốt cách Việt-nam. Vả các cô đều là gái sinh trưởng ở thị-thành, có tây học, thích ăn kem (như cô Hoa), mê say chiếu bóng (như cô Quá), ở giữa một xă-hội từng chung đụng với người tây-phương gần một thế-kỷ và chịu ảnh-hưởng nặng-nề văn-hóa Pháp th́ làm sao tránh khỏi không tiêm nhiễm ít nhiều tinh-thần cùng nếp sống tây-phương ?

Ngoài tiểu-thuyết Đ̣ dọc, tôi thích những truyện ngắn của B́nh-nguyên-Lộc hơn truyện dài của anh. Trong tập truyện ngắn “Kư thác”, có nhiều truyện làm ta phải cảm động và suy nghĩ như những truyện : Rừng mắm, Ba con cáo, Ăn cơm chưa, Cho tay nầy lấy tay kia. Và các văn, thi-sĩ chắc không khỏi bùi-ngùi cho số kiếp con tằm rút ruột của ḿnh qua truyện Người đàn ông đẻ. C̣n trong tập truyện ngắn “Tâm-trạng hồng” th́ hầu hết các truyện đều kết cuộc rất bất ngờ khiến người đọc ngạc nhiên một cách thích thú.

Trong số những truyện đă xuất bản của B́nh-nguyên-Lộc c̣n có một tập truyện quái đản kiểu “Liêu-trai chí dị” của Bồ Tùng-Linh. Do đó, tác-giả lấy nhan sách là “Tân Liêu-trai” (riêng tập truyện này, anh kư bút hiệu là Phong-Ngạn). Tuy truyện phỏng theo lối viết truyện ma của họ Bồ, nhưng kết cục lại chịu ảnh-hưởng tinh-thần khoa học tây-phương, nghĩa là không có ma ǵ hết và người sợ ma chỉ là người nhút nhát thần hồn nát thần tính, v́ những cái ḿnh tưởng là ma chỉ là người bằng xương bằng thịt. ! Truyện quái đản của B́nh-nguyên-Lộc v́ thế, có được ưu-điểm là không hoang đường, nhưng - cũng v́ thế - thiếu vẻ kỳ thú của Liêu-trai, của những giấc mơ ảo huyền thoát tục. Đọc Tân Liêu-trai của anh, ta vẫn thấy ḿnh bị gắn liền với thực tại vật-chất, và chỉ sau vài ba truyện là ta nắm ngay được chóp … con ma. Ta biết chắc là không có ma, thế là ta hết sợ, và hết sợ th́ bớt thú ! Người lớn tuổi - nhất là lại có học thức - đọc truyện ma đâu có dễ bị ảnh-hưởng sự hoang đường. V́ thế, ta không lo ngại họ trở nên mê tín. Họ đọc truyện ma là muốn quên thực tại đau buồn trong chốc lát để lạc vào thế-giới kỳ bí của linh-hồn đặng t́m những cảm-giác lạ cũng như thi-nhân mơ mộng đè mây, cưỡi gió, thả hồn lên cơi trăng sao. Họ biết là nói láo mà họ vẫn thích nghe, đúng như Vương-Ngư-Dương đă cảm đề “Liêu-trai chí dị” :

Cô vọng ngôn chi, cô thính chi !

Đậu bằng qua giá vũ như ti.

Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,

Ái thính thu phần quỷ xướng thi.

Bản dịch của Tản-Đà :

Nói láo mà chơi, nghe láo chơi,

Giàn dưa lún-phún hạt mưa rơi.

Chuyện đời hẳn chán không buồn nhắc,

Thơ-thẩn nghe ma đọc mấy lời.

Bản dịch của Vũ Hoàng-Chương :

Nói bứa bừa đi, nghe bứa bừa,

Dây dưa giàn dậu phới tơ mưa.

Giọng đời chán ngấy người lên được,

Tiếng quỷ mồ thu hát thấy ưa, [2]

Do đó, Tân Liêu-trai của B́nh-nguyên-Lộc chỉ làm thỏa măn được những độc-giả ưa chuộng khoa-học mà không lôi cuốn được những người thích... nghe nói láo ! Mà những người sau này lại chiếm số đông; v́ thế anh khó mà lấn được họ Bồ ở địa-hạt này, nhất là “Liêu-trai chí dị” không phải chỉ toàn nói láo suông mà c̣n có nhiều truyện mỉa đời, răn người rất sâu sắc.

*

Tuy đă được thưởng thức văn tài của B́nh-nguyên-Lộc từ 1959, qua tiểu-thuyết Đ̣ dọc, tôi vẫn chưa có dịp gặp anh. Măi đến giữa năm 1961, tôi mới gặp anh lần đầu tại Câu-lạc-bộ Sĩ-Quan ở Chợ-lớn, nhân buổi nói chuyện về thơ của Hà-thượng-Nhân do bác-sĩ trung tá Hoàng-văn-Đức, chỉ huy trưởng trường Đại Học Quân Y, tổ chức. Hôm ấy, anh đến muộn, đi vào ngồi gần bên tôi. Anh lặng lẽ đưa tay chào ; tôi bắt tay anh, yên trí là một nhà văn nào đó. Kịp đến khi ban tổ chức giới-thiệu từng người, chúng tôi mới nh́n nhau ngạc nhiên nhưng vui thích. Tối hôm ấy, tôi chỉ trao đổi được với anh có ít lời v́ c̣n nghe diễn-giả nói và nhất là mải nghe cô Hồ-Điệp ngâm thơ ; nhưng h́nh dáng con người gầy g̣, hiền lành, có vẻ ít nói ấy đă làm tôi nhớ măi. Tôi không ngờ một người bề ngoài ốm yếu, hiền lành như vậy mà lại có sức sáng tác rất dồi-dào, có những nhận xét dí-dỏm sâu sắc, có giọng văn duyên dáng tài hoa.

Gần đây, nhân anh ghé thăm, tôi có đưa anh xem tập “lưu-bút” để anh ghi cho ít hàng làm kỷ-niệm. Tôi hơi ngạc nhiên thấy anh không nghĩ ngợi, thoăn-thoắt viết ngay. Hỏi, th́ anh cười đáp :

-  Chơi với ai, nhất là các bạn trong làng văn, tôi đă có nhận xét về người ấy. Với anh cũng vậy, nên chỉ việc viết những nhận xét ấy ra, chứ có ǵ đâu !

Nhưng tôi th́ tôi cho là anh khiêm tốn để che giấu cái tài mẫn tiệp của anh. Qua mấy ḍng lưu bút mà tôi được mục-kích khi anh viết, tôi có cảm-tưởng anh viết văn rất dễ dàng và rất thành-thực khi nói rằng anh tha-thiết yêu quê hương xứ sở. Trong nhiều truyện và các thiên tùy bút (như T́nh đất) khảo luận, sưu tầm (thư Thổ ngơi Đồng nai) anh đă từng nhiều lần biểu lộ mối t́nh cao đẹp ấy.

Tiện đây, xin chép lại mấy hàng lưu bút của anh để ghi chút kỷ-niệm giữa anh với tôi, đồng thời cũng để độc-giả xét xem nhận định của tôi có hay không đúng :

“Tôi ích kỷ lắm nên tôi thương những người thương tôi. Qua mấy bài thơ “Trái sầu riêng”, “Trái măng-cụt”,  “Trái xoài”, “Trái vú sữa”,  “Ngơ hẻm”,…,  tôi thấy rằng anh thương mến miền Nam của chúng tôi, tức là của tôi, tức là chính tôi, nên tôi thương mến anh.”

Phú-nhuận, 26-5-63

B̀NH-NGUYÊN-LỘC

*

Để hiểu rơ hơn về tác-giả, tác-phẩm, phương-pháp làm việc, vấn đề cảm-hứng, v.v..., tôi mở một cuộc “phỏng vấn văn-nghệ” và “buộc” anh trả lời.

Tôi hỏi :

-  Anh bắt đầu viết văn từ bao giờ ?

-  Từ hồi c̣n đi học. Nhưng măi đến năm l942 văn thơ của tôi mới được báo chí nhận đăng.

-  Cách làm việc của anh thế nào ? Có phải đợi cảm-hứng không ?

- Buổi đầu, tôi đợi hứng. Nhưng trong ṿng mười năm sau này tôi làm việc đều đều, mỗi ngày nhất định phải viết bao nhiêu trang, mặc dầu bận ǵ. Nhờ sự đều đặn trong mười năm liền ấy tôi đă viết được khá nhiều.

-  Anh cho biết rơ ; khá nhiều là bao nhiêu ?

-  Cho tới ngày 31-5-63, tôi đă viết được 600 truyện ngắn, 37 truyện dài, 1 tập tùy-bút (T́nh đất), l tập sưu-khảo (Thổ ngơi Đồng-Nai), 2 quyển văn vần cho trẻ em (Việt-sử trường ca, Cổ tích Việt-Nam),  l tập thơ (Thơ tay trái), l tập nghị-luận (Vài ư nghĩ về văn nghệ), l tập khảo-cứu, cùng soạn với trưởng nam tôi là bác-sĩ Tô-Dương-Hiệp : Khinh-tâm bịnh và sáng tác văn nghệ (Névrose & Créations artistiques ét littéraires). Ngoài ra, tôi c̣n dịch được  3 bộ sách Pháp là : Poil de carotte của Jules Renard, Tartarin de Tarascon của Alphonse Daudet và Le livre de mon ami của Anatole France.

Tất cả những tác-phẩm trên này đều đă đăng báo và một số đă in thành sách.

-  Anh có gặp trở ngại ǵ trong việc bắt buộc phải sáng tác đều đều và đúng kỳ hạn ?

-  Ấy, có nhiều nhà văn cho rằng tôi viết tiểu-thuyết đăng báo hằng ngày sẽ có hại cho văn-nghiệp của tôi v́ tôi viết vội, làm sao hay được !

A, cái vụ này thật là mâu thuẫn một cách buồn cười ! Mấy mươi năm gần đây, các văn-hào trên thế giới đều khuyên văn nhân, thi-sĩ nên làm việc đều đều mỗi ngày và có qui-củ chớ đừng đợi hứng như ngày xưa nữa. Những lời khuyên ấy rất có lư nên hầu hết văn-nhân thi-sĩ ta đều cho rằng nên theo. Như thế, nếu không viết tiểu-thuyết đăng báo hằng ngày th́ mỗi ngày tôi cũng phải viết chừng năm trang giấy, y như là viết đăng báo, nên tôi theo đúng lời khuyên nhủ trên mà ai cũng cho là có lợi. Thế th́ đăng báo hằng ngày hay không đăng báo hằng ngày có khác ǵ nhau đâu ? Có nhiều tờ báo chỉ đăng ba trang ruỡi của tôi thôi, nghĩa là ít hơn số chữ mà tôi phải viết mỗi ngày. Hay là các vị ấy ám chỉ đến nhiều tiểu-thuyết của tôi đăng một lượt trên nhiều tờ báo ? Nhưng có ǵ chứng tỏ rằng tôi viết mỗi ngày đến bốn tiểu-thuyết một lượt ? Tôi không thể có sẵn được một số tiểu-thuyết đă viết xong ư ?

Ngày nay, trên thế-giới có nhiều nhà văn (rất có danh) viết bằng máy đánh chữ, nghĩa là không có sửa chữa, và những người chưa đến đỗi làm thế, đều có khuynh-hướng muốn làm thế. Khi mà ai cũng vội vàng cả, th́ người ta sẽ đánh giá-trị trên cái ǵ c̣n lại của mỗi nhà văn trong không khí hấp-tấp đó.

Nếu họ gọt từng chữ như G. Flaubert th́ họ được 10 điểm; c̣n như họ hối hả, họ chỉ c̣n 6 điểm thôi, thiệt cho họ mà cũng thiệt cho cả người thưởng thức; nhưng biết sao, v́ nhịp sống đưa họ tới đó, họ hoàn toàn bất lực, không cưỡng lại được. Rồi các nhà văn ta cũng sẽ thế, v́ một ngày kia nhịp sống ở đây sẽ cũng vun vút như bất kỳ ở đâu, không ai c̣n th́-giờ gọt dũa nữa !

Vậy nếu tác phẩm của tôi không hay là tại tôi bất tài, chớ không phải tại viết báo hằng ngày mà thành dở ! Tố nói điều này ra, thật là bất lợi cho tôi; v́ hiện giờ tôi có thể nương vào   luận-cứ của các nhà phê-b́nh ấy để đổ thừa sự bất tài của tôi cho báo hằng ngày. Nó́ rơ quan-điểm của tôi ra, tôi không c̣n đổ lỗi cho ai được nữa cả và đành phải chịu là bất tài vậy, trong khi tôi rất có lợi mà rêu-rao rằng : “Các bạn ơi, tại tôi viết vội nên mới dở thế, chớ nếu có th́ giờ g̣ gẫm th́ tôi đă viết hay hơn và sẽ hay lắm kia !”

-  Anh có những nguyện vọng ǵ trong đời văn của anh ?

-  Tôi tham lam nên có nhiều nguyện vọng, nhưng nói ra sao cho hết ! Vậy xin chỉ đưa ra nguyện vọng tha-thiết nhất của tôi.

Trước khi tŕnh bày nguyện vọng đó, tôi xin mạn phép xúc phạm đến các nhà in của người ḿnh, họ cẩu thả một cách đáng buồn ! Thường th́ sách in, tác giả sửa bài ở bản cuối cùng, và các lỗi đều đă được sửa hết. Nhưng ông sếp “typo” chẳng mấy khi không để sót lỗi. Cái đó cũng không sao, v́ đáng lư c̣n phải sửa lại một lần chót nữa khi lên máy, rồi kư tên cho phép th́ máy mới được chạy. Nhưng thói tục các nhà in của ta là cho lên khuôn máy hồi 12 giờ đêm. Họ không buồn đợi sáng để tác-giả đến sửa, cứ đưa cái bản lên máy đó cho bất kỳ một thầy c̣ phụ nào xem để kư tên (v́ lúc ấy ông thầy c̣ chính cũng đă ngủ mất rồi !). V́ kém cỏi, v́ lười, v́ buồn ngủ, ông thầy c̣ phụ nhắm mắt kư tên bừa; thành thử sách nào in trong nước cũng c̣n những lỗi là lỗi !

V́ thế, nguyện vọng tha-thiết của tôi là ngày sau, nếu may ra đoạn văn nào của tôi mà c̣n được để đời th́ tôi mong mỏi các nhà trích văn hăy nên t́m đến gia-đ́nh tôi, xem chính quyển sách riêng của tôi được sửa chữa lại do chính tay tôi, đúng y theo bản thảo. Hiện giờ nhà soạn sách giáo-khoa nào mà có xin phép tôi để trích văn, tôi cũng yêu cầu như thế. C̣n nhà nào không xin phép, tôi không hay biết, th́ nếu có trích in sai tôi không chịu trách-nhiệm.

Năm ngoái, có một giáo-sư xin trích một đoạn văn trong quyển Đ̣ dọc, trong đó có câu : “Những thanh sắt đă nướng, đỏ lần lần như lửa đă rửa được cái đen đúa dơ dáy của nó”. Câu văn này, may quá, sách lại in đúng. Nhưng vị giáo-sư ấy ngỡ là in sai một dấu phết và đề nghị dời dấu phết ấy như thế này : “Những thanh sắt đă nướng đỏ lần lần như lửa, đă rửa được cái đen đúa dơ dáy của nó”. Ai biết tiếng Pháp thử dịch hai câu trên ra Pháp-văn và sẽ thấy ngay là hai câu khác nghĩa nhau rất xa khi một dấu phẩy bị dời chỗ.

Câu thứ nhất của tôi có thể dịch là : “Les barres de fer chauffées, rougissent de minute en minute comme si le feu aurait lavé leur saleté”. C̣n câu của vị giáo-sư phải dịch là : “Les barres de fer chauffées peu à peu au rouge, pareilles à du feu, ont lavé leur saleté”

Câu sau chẳng những khác hẳn câu trước, mà c̣n vô nghĩa nữa; v́ trong câu Pháp-văn thứ nh́, chữ của nó (leur) không chỉ được là của ai ! Những thanh sắt đă nướng đỏ, rửa được cái dơ bẩn của ai ? Nếu là của chính nó th́ phải viết : “… tự rửa được cái dơ dáy của ḿnh”,  và - như thế - câu chữ Pháp phải là “Les barres de fer chauffées peu à peu au rouge, se sont lavées les saletés

Câu chuyện này xảy ra khiến tôi đâm sợ, v́ sách của tôi bị in sai không biết mấy trăm lỗi trong một quyển. Một dấu phết nhỏ mọn cũng đă quan trọng đến thế, huống chi là các chữ ! Thế mà sách nào cũng sai lối vài trăm dấu phết và lối bảy tám mươi chữ là thường !

Hỏi về nguyện vọng mà lại chỉ được nghe than thở về kỹ thuật ấn-loát của ta, người không ở trong nghề hẳn không khỏi ngạc nhiên. Nhưng tôi rất thông cảm vớ́ anh. Vả tất cả các bạn văn đă từng hơn một lần đau xót cho đứa con tinh-thần của ḿnh khi ra đời bị bà mụ vườn vụng-về cẩu thả làm trẹo tay què chân hay thành tật, hẳn cũng đồng ư.

Tôi tiếp tục phỏng vấn B́nh-nguyên-Lộc :

-  Anh cho biết tác-phẩm đầu tay của anh là quyển nào ?

-  Là truyện dài lịch-sử Phù-sa. Đó là tác-phẩm lớn nhất của tôi (chừng 900 trang) viết từ năm l942 mà chưa xong hẳn, mặc dầu đă đăng báo một phần (tạp-chí Nhân-Loại), Truyện tả cuộc di-cư vĩ đại của đồng-bào ta cách đây ba trăm năm, đổ xô vào Nam để khai hoang đất mới, dựng nên miền Nam ngày nay.

- Trong các tác-phẩm của anh, tương đối anh thích tác-phẩm nào hơn ? Và nhũng đoạn văn nào, khi viết, anh thấy có hứng hoặc ưng ư hơn cả ?

- Tôi thấy khó đáp câu này, v́ nhiều tác-phẩm có liên hệ đến tâm-sự ḿnh nên ḿnh yêu thích, ngỡ nó hay lắm, nhưng thật ra không có giá-trị bao nhiêu đối với người khác. Hơn thế, người đời lại đoán biết được những ǵ là ḿnh muốn giấu.

Tuy nhiên tôi cũng xin đáp rằng tác-phẩm của tôi mà tôi thích nhất là tiểu-thuyết So le. Truyện này đăng báo cách đây đă mười năm, không c̣n ai nhớ cả, không ai đoán được ǵ hết v́ tôi không cho xuất bản bây giờ. Khi tôi chết rồi, gia-đ́nh tôi có cho in th́ tôi không c̣n đó để mà sợ người ta cười. Nhưng, v́ lối làm việc của tôi, tôi lại có thể nói rằng : Tác- phẩm nào của tôi, tôi cũng thích hết, v́ những truyện tôi viết ra đều hoàn toàn bịa đặt, nhưng tất cả chi tiết trong ấy đều có thật. Thành ra ở truyện nào cũng có tôi cả, ít hay nhiều, không nhân-vật chính th́ cũng nhân vật phụ. Tôi thương tôi qua những nhân-vật ấy và, v́ thế, tôi thương tác-phẩm của tôi. Có một tác-phẩm trong đó không có tôi - một truyện dài bằng văn vần - nhan là Thơ Ba Mén - nhưng tôi rất thương. Đây mới thật là thương, thương không ích kỷ, thương nó v́ nó chớ không phải v́ ḿnh [3]

C̣n đoạn văn mà tôi thích nhất ? Chắc chắn là văn trong truyện ngắn ; v́ trong tiểu-thuyết tôi không dám tả cảnh, tả người sợ nó sẽ dài đến bảy tám trăm trang làm mệt người đọc. Nhưng hiện nay tôi không nhớ rơ đoạn nào, mà đợi đọc lại hết cả 600 truyện ngắn để lựa ra th́ chắc lúc đó anh không c̣n viết loạt sách “Kỷ niệm và nhận định...” này nữa ! Vậy xin tạm đưa ra một đoạn văn trong tiểu-thuyết “Nhện chờ mối ai” : Đó là đoạn ở cuối truyện gồm có bức thư của Liên gửi cho Ngọc và những đoạn văn xen lẫn trong thư (trừ ba ḍng sau chót) [4]

-  Theo như anh vừa nói th́ anh đă sáng tác một truyện dài bằng văn vần, nghĩa là anh có làm cả thơ. Vậy tiện đây anh có thể cho biết bài thơ nào anh ưng ư nhất không ?

- Nói là yêu mến nhất th́ đúng hơn. Đó là bài thơ “Dâng má thương[5], tôi làm tặng má tôi. Bài thơ này đă đăng trong tạp-chí Bách-Khoa dùng làm tựa cho tập sưu-khảo Thổ-ngơi Đồng-Nai, nhưng cũng được cho vào tập thơ Thơ tay trái (gồm độ 4o bài).

*

Đă biết rơ tất cả những điều muốn biết, tôi ngừng hỏi, ngồi yên lặng ngắm B́nh-nguyên-Lộc và tự nhủ : Con người nhỏ nhắn này quả có sức làm việc phi thường.

Một ư nghĩ so sánh thoảng qua óc tôi: Tôi nghĩ đến Victor Hugo, đến Honoré de Balzac của nước Pháp ở thế kỷ XIX và - gần hơn, cả về không-gian lẫn thời-gian - đến Hồ-Biểu-Chánh. Rồi tự nhủ thầm: Đây là một ưu điểm đáng kể của miền Nam. Nhưng lớp trước có Hồ-biểu-Chánh, lớp này có B́nh-nguyên-Lộc, c̣n lớp sau sẽ có ai ?

(Tháng năm, l963)

Bàng Bá Lân

---------------------------------------------------------------------

Nguồn: Văn Thi Sĩ Hiện Đại, Kỷ Niệm, Nhận Định

Xây Dựng xuất bản. Quyển II, 1963

 

 



[1] Gần đây B́nh-Nguyên-Lộc có cho tôi biết anh thích tiểu-thuyết Xô ngă bức tường rêu hơn Đ̣ dọc, v́ - theo anh - Đ̣ đọc chỉ có giá trị nghệ-thuật, c̣n Xô ngă bức tường rêu th́ ngoài nghệ-thuật c̣n có tính-cách xây-dựng nữa. Anh cho biết sách này đang in và hứa sẽ gửi đến tôi ngay. Nhưng rất tiếc là cho đến hôm nay tôi vẫn chưa nhận được (v́ tiểu thuyết đó chưa in xong) nên không kịp giới-thiệu với bạn đọc. (B.B.L,).

 

[2] Tôi lục in bản dịch của Tản-Đà v́ là bản được nhiều người biết và lời thơ nghe th́ lưu loát, nhưng tiếc thay bản địch này c̣n đôi chút khuyết điểm như câu 2 không dịch chữ “đậu bằng”, câu 4 thiếu ư “thu phần” và chữ “lún-phún”tĩnh quá, không thích hợp với mưa rơi. Không hiểu sao dịch-giả không nghĩ đến chữ “lất phất” ? Bởi vậy tôi lại in thêm bản của Vũ Hoàng-Chương, dịch sát hơn. Hai câu cuối của bản này mới đọc nghe như tầm thường nhưng ngẫm nghĩ mới thấy tự-nhiên và hóm-hỉnh, chua chát nữa, v́ việc đời quả lắm lúc …chán thấy mồ ! 

 (B.B.L,).

 

 

[3] Có giới thiệu đoạn đầu trong phần phụ lục ở dưới

[4] Xem phần phụ lục.

[5] Xem phần phụ lục.